Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động xây dựng cơ bản giữ vai trò huyết mạch, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Hoạt động của các doanh nghiệp xây lắp hiện nay chủ yếu vận hành theo cơ chế đấu thầu cạnh tranh, đòi hỏi các đơn vị phải liên tục tìm kiếm giải pháp kiểm soát chi phí nhằm hạ giá thành công trình nhưng vẫn đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật thiết kế. Trong hệ thống quản lý kinh tế của doanh nghiệp, công tác kế toán chi phí sản xuất đóng vai trò trung tâm, cung cấp dữ liệu kịp thời và chính xác để người quản trị phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và ra quyết định sản xuất kinh doanh. Xuất phát từ kỳ thực tập thực tế tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Tây Hồ, tác giả nhận thấy công tác hạch toán chi phí sản xuất xây lắp tại đơn vị vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần được nghiên cứu và tháo gỡ. Do đó, đề tài "Kế toán chi phí xây lắp công trình Cải tạo, sửa chữa nền nhà S13 tại khu A - Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự tại Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Lắp Tây Hồ" được lựa chọn làm khóa luận tốt nghiệp.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định rõ thành hai phương diện:

  1. Về mặt lý luận: Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến chi phí, chi phí sản xuất, phương pháp tập hợp và hạch toán chi phí sản xuất xây lắp theo quy định của Chế độ kế toán doanh nghiệp và các Chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành.
  2. Về mặt thực tiễn: Khảo sát và phản ánh thực trạng tổ chức hạch toán chi phí sản xuất xây lắp tại một công trình cụ thể của Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Tây Hồ, đánh giá những thành công và hạn chế trong công tác kế toán, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện phương pháp hạch toán, nâng cao hiệu quả quản lý chi phí sản phẩm xây lắp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác kế toán chi phí xây lắp phát sinh tại công trình Cải tạo, sửa chữa nền nhà S13 tại khu A - Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự thuộc Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Tây Hồ.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Phòng Tài chính - Kế toán của Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Tây Hồ và Đội Xây dựng số 10 là đơn vị trực tiếp thi công công trình.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình thu thập và khảo sát tài liệu diễn ra từ ngày 07/01/2013 đến ngày 05/04/2013. Các số liệu kế toán được đưa vào phân tích trong khóa luận phản ánh nghiệp vụ phát sinh của năm 2013, trọng tâm là kỳ kế toán tháng 01/2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống các Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tài chính ban hành, bao gồm:

  • Chuẩn mực kế toán số 01 (VAS 01 - Chuẩn mực chung): Quy định các nguyên tắc và yêu cầu kế toán cơ bản, định nghĩa chi phí và các tiêu chuẩn ghi nhận yếu tố chi phí vào Báo cáo tài chính.
  • Chuẩn mực kế toán số 15 (VAS 15 - Hợp đồng xây dựng): Hướng dẫn phương pháp kế toán doanh thu và chi phí hợp đồng xây dựng; phân loại chi phí liên quan trực tiếp đến hợp đồng, chi phí chung phân bổ và các chi phí khác có thể thu hồi từ khách hàng; xác định chi phí ghi nhận theo tiến độ kế hoạch hoặc theo khối lượng công việc thực hiện hoàn thành được xác nhận.
  • Chuẩn mực kế toán số 02 (VAS 02 - Hàng tồn kho): Quy định việc xác định giá thực tế nguyên vật liệu xuất dùng (đích danh, bình quân gia quyền, nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước) và phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung cố định theo công suất bình thường của máy móc thiết bị.
  • Chuẩn mực kế toán số 03 (VAS 03 - Tài sản cố định hữu hình): Quy định về chi phí sửa chữa, bảo dưỡng tài sản và phương pháp trích khấu hao tài sản cố định hữu hình phân bổ có hệ thống vào chi phí sản xuất kinh doanh theo thời gian sử dụng hữu ích.
  • Chuẩn mực kế toán số 16 (VAS 16 - Chi phí đi vay): Quy định về điều kiện vốn hóa chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc đầu tư xây dựng tài sản dở dang.
  • Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Để phục vụ công tác nghiên cứu, tác giả phối hợp ba phương pháp thu thập và xử lý thông tin thực nghiệm:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập và tổng hợp tài liệu từ bên ngoài (giáo trình kế toán chi phí sản xuất, hệ thống chuẩn mực kế toán, văn bản quy phạm pháp luật, các chuyên đề khóa luận chuyên ngành) và tài liệu bên trong doanh nghiệp (chứng từ gốc, sổ sách kế toán chi tiết, sổ cái, báo cáo tài chính, giấy phép đăng ký kinh doanh, sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý và kế toán).
  • Phương pháp quan sát thực tế: Sử dụng phương pháp trực quan để quan sát quy trình thực hiện công việc kế toán tại chỗ, bao gồm khâu lập chứng từ, luân chuyển chứng từ giữa các bộ phận, quá trình nhập liệu vào phần mềm kế toán, việc xử lý định khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và trình tự kết xuất sổ kế toán tổng hợp, chi tiết tại Phòng Tài chính - Kế toán.
  • Phương pháp phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp Kế toán trưởng công ty (ông Trần Anh Tuấn) nhằm làm rõ các chính sách kế toán áp dụng, chế độ kế toán theo quyết định áp dụng, niên độ kế toán, phương pháp tính thuế Giá trị gia tăng (GTGT), phương pháp hạch toán hàng tồn kho, phương pháp trích khấu hao tài sản cố định, tiêu thức phân loại chi phí và phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung tại đơn vị.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu kết hợp giữa dữ liệu sơ cấp thu nhận từ phỏng vấn và dữ liệu thứ cấp trích xuất trực tiếp từ chứng từ, sổ chi tiết tài khoản, sổ cái và báo cáo của phần mềm Fast Accounting 2010.03 của Đội Xây dựng số 10 và Phòng Tài chính - Kế toán công ty.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất áp dụng cho loại hình doanh nghiệp xây lắp. Tác giả phân tích các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật đặc thù của ngành xây dựng cơ bản tác động trực tiếp đến công tác kế toán:

  • Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính chất đơn chiếc và thời gian sản xuất kéo dài. Do đó, công tác quản lý và hạch toán bắt buộc phải dựa trên dự toán thiết kế và dự toán thi công làm thước đo, mỗi công trình phải tập hợp chi phí và tính giá thành riêng biệt.
  • Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá đấu thầu thỏa thuận trước với chủ đầu tư thông qua hợp đồng giao nhận thầu, khiến tính chất hàng hóa của sản phẩm không thể hiện rõ trên thị trường tự do.
  • Sản phẩm xây lắp cố định tại địa điểm thi công, trong khi các yếu tố sản xuất (máy móc, người lao động, vật tư) phải di chuyển theo vị trí công trình, làm tăng tính phức tạp trong công tác bảo quản, điều động và làm phát sinh các khoản chi phí di chuyển lực lượng lao động, máy thi công.
  • Thời gian thi công kéo dài qua nhiều giai đoạn và chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi điều kiện thời tiết tự nhiên; kỳ tính giá thành thường không xác định hàng tháng mà gắn liền với thời điểm công trình, hạng mục công trình hoàn thành hoặc bàn giao theo giai đoạn quy ước.

Về phương diện phân loại chi phí, khóa luận trình bày các tiêu thức phân loại chủ yếu: theo mục đích và công dụng kinh tế (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung); theo nội dung và tính chất kinh tế (yếu tố nguyên vật liệu, nhân công, khấu hao tài sản cố định, dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền); phân loại theo mối quan hệ nạp chi phí (trực tiếp và gián tiếp); theo mối quan hệ với khối lượng hoàn thành (cố định, biến đổi, hỗn hợp). Khóa luận cũng thiết lập công thức toán học cho phương pháp phân bổ gián tiếp: hệ số phân bổ $H = C / T$ và chi phí phân bổ cho từng đối tượng $C_i = H \times T_i$, trong đó $C$ là tổng chi phí cần phân bổ và $T$ là tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ.

Về mặt kỹ thuật hạch toán, chương này mô tả chức năng, kết cấu và phương pháp định khoản của hệ thống tài khoản kế toán chi phí theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC: TK 621 (Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp), TK 622 (Chi phí nhân công trực tiếp - không phản ánh các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất), TK 623 (Chi phí sử dụng máy thi công, xử lý theo ba trường hợp: không có đội máy riêng, có đội máy riêng hạch toán phân cấp, hoặc thuê ngoài máy), TK 627 (Chi phí sản xuất chung, kết chuyển phần chi phí cố định không phân bổ vào TK 632) và TK 154 (Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang). Đồng thời, tác giả khái quát quy trình ghi sổ của năm hình thức kế toán: Nhật ký - Sổ cái, Chứng từ - Ghi sổ, Nhật ký - Chứng từ, Nhật ký chung và Kế toán trên máy tính.

Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí xây lắp công trình Cải tạo, sửa chữa nền nhà S13 tại khu A-Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự tại Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Lắp Tây Hồ

Chương 2 phản ánh chi tiết thực tiễn tổ chức công tác kế toán tại đơn vị thực tập. Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Tây Hồ là doanh nghiệp trực thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng – Bộ Quốc phòng, hạch toán kinh tế độc lập với sáu ngành nghề kinh doanh đăng ký (xây dựng công trình, phá dỡ giải phóng mặt bằng, tư vấn thiết kế, khảo sát địa chất/trắc địa/thủy văn, xuất nhập khẩu hàng hóa thiết bị, kinh doanh vận tải và dịch vụ). Cơ cấu quản trị gồm Hội đồng quản trị, Giám đốc điều hành, 3 Phó giám đốc (thi công, kỹ thuật, nội chính), bốn phòng ban chức năng và các đơn vị trực thuộc. Bộ máy kế toán tổ chức theo mô hình hỗn hợp: Phòng Tài chính - Kế toán tại công ty gồm 10 nhân sự điều hành tập trung kết hợp với bộ phận kế toán tại các đội, xí nghiệp tự chủ. Các chính sách kế toán áp dụng gồm: niên độ kế toán từ 01/01 đến 31/12; đơn vị tiền tệ là VNĐ; hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên; tính giá xuất kho theo phương pháp thực tế đích danh; nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ; trích khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng; phần mềm ứng dụng là Fast Accounting 2010.03. Đáng chú ý, hình thức sổ kế toán tại văn phòng công ty là Chứng từ - Ghi sổ, trong khi tại các đội và xí nghiệp lại áp dụng hình thức Nhật ký chung.

Khảo sát công tác hạch toán chi phí công trình Cải tạo, sửa chữa nền nhà S13 khu A - Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự (ký hiệu Gói thầu số 7, do Đội Xây dựng số 10 thi công, mã đơn vị 1361.21, mã vụ việc CT04) trong tháng 01/2013 cho thấy quy trình thực tế:

  • Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621): Chiếm tỷ trọng từ 70% đến 80% giá thành. Chứng từ gốc gồm hóa đơn GTGT, phiếu xuất kho, biên bản kiểm nghiệm, bảng kê thanh toán chi phí nguyên vật liệu. Tại Đội Xây dựng số 10, kế toán tập hợp chứng từ và lập bảng kê gửi về công ty. Khi công ty xét duyệt, kế toán công ty ghi nhận: Nợ TK 621 / Có TK 1361.21 (đối ứng qua tài khoản phải thu nội bộ).
  • Kế toán chi phí nhân công trực tiếp (TK 622): Doanh nghiệp thực hiện trả lương công nhân xây lắp theo hình thức khoán khối lượng hoàn thành căn cứ hợp đồng giao khoán (ví dụ Hợp đồng số 02), bảng chấm công (do tổ trưởng Phùng Quang Bình theo dõi) và bảng xác nhận công việc hoàn thành. Đơn giá lương dựa trên định mức kỹ thuật do Phòng Kế hoạch - Kỹ thuật xây dựng. Các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN của công nhân trực tiếp không hạch toán vào TK 622. Định khoản tại công ty: Nợ TK 622 / Có TK 1361.21.
  • Kế toán chi phí sử dụng máy thi công (TK 623): Công ty không tổ chức đội máy riêng biệt; máy móc được điều động hoặc thuê ngoài trực tiếp cho từng công trình. Cả công ty và xí nghiệp đều không mở chi tiết tài khoản cấp 2 cho TK 623. Đáng lưu ý, chi phí khấu hao máy thi công do công ty quản lý tập trung và chỉ thực hiện trích và lập bảng phân bổ định kỳ 6 tháng một lần vào tháng 6 và tháng 12 (trong đó tách riêng khấu hao và lãi vay ngân hàng mua máy). Trong các tháng còn lại (gồm tháng 01/2013), sổ kế toán không phát sinh khấu hao máy thi công mà chỉ ghi nhận chi phí thuê máy ngoài hoặc nguyên liệu vận hành. Chứng từ ghi sổ tại công ty phản ánh Nợ TK 623 số tiền 141.000.000 VNĐ.
  • Kế toán chi phí sản xuất chung (TK 627): Được phân chia thành hai nhóm: chi phí chung phát sinh tại công trường và chi phí chung phát sinh tại đội/xí nghiệp. Các đội mở chi tiết sáu tài khoản cấp 2 (TK 6271 đến 6278). Lương nhân viên quản lý gồm hai phần: lương kỳ 1 (tính theo hệ số, lương tối thiểu và phụ cấp quốc phòng 30%) và lương kỳ 2 (hệ số kinh doanh nhân định mức 300.000 VNĐ). Tiền trích BHXH, BHYT, BHTN trích theo lương quân đội, còn KPCĐ tính theo lương thực tế; tiêu thức phân bổ các khoản trích này cho từng công trình là căn cứ vào doanh thu ghi nhận trong quý. Đối với chi phí chung phát sinh tại đội/xí nghiệp, tiêu thức phân bổ cho từng công trình dựa vào tỷ lệ tổng chi phí trực tiếp ($C_{tti}$). Trong tháng 01/2013, Đội Xây dựng số 10 thi công 2 công trình; công trình Gói thầu số 7 - HVKTQS có tổng chi phí trực tiếp là 843.013.000 VNĐ, được phân bổ 38.000.000 VNĐ chi phí xí nghiệp, đưa tổng chi phí sản xuất chung của công trình lên mức 64.542.000 VNĐ.
  • Kế toán tổng hợp chi phí cuối kỳ: Tại cấp đội, TK 154 được theo dõi chi tiết qua 4 tài khoản cấp 2 (TK 1541, 1542, 1543, 1544). Hàng tháng hoặc định kỳ không quá 3 tháng, đội gửi Bảng tổng hợp thanh toán chi phí kèm toàn bộ chứng từ gốc lên công ty để duyệt. Sau khi ban hành Bảng duyệt thanh toán chi phí, kế toán công ty lập phiếu kế toán, định khoản kết chuyển cuối tháng vào Nợ TK 154 / Có các TK 621, 622, 623, 627, vào sổ chi tiết và sổ cái TK 154 theo hình thức Chứng từ - Ghi sổ.

Chương 3: Các kết luận và giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Lắp Tây Hồ

Dựa trên thực trạng hạch toán, tác giả tổng kết các ưu điểm và hạn chế trong công tác quản lý, ghi sổ và luân chuyển chứng từ tại công ty. Nhằm khắc phục những tồn tại, chương 3 đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Giải pháp thứ nhất: Về hình thức ghi sổ và hệ thống thông tin kế toán. Đề xuất hoàn thiện và đồng bộ hóa hình thức ghi sổ kế toán giữa văn phòng công ty và các đơn vị trực thuộc, tối ưu hóa việc khai thác tính năng của phần mềm Fast Accounting nhằm đẩy nhanh tốc độ truyền dữ liệu và lập báo cáo.
  2. Giải pháp thứ hai: Về kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Hoàn thiện quy trình kiểm soát xuất kho, định mức tiêu hao vật liệu tại công trường, hạn chế hao hụt và xử lý chặt chẽ khâu thu hồi vật tư thừa.
  3. Giải pháp thứ ba: Về kế toán chi phí nhân công trực tiếp. Cải tiến phương pháp lập bảng chấm công, kiểm soát khối lượng giao khoán hoàn thành gắn liền với chất lượng nghiệm thu và đơn giá tiền lương định mức.
  4. Giải pháp thứ tư: Về kế toán chi phí sử dụng máy thi công. Điều chỉnh phương pháp hạch toán và phân bổ chi phí máy thi công; kiến nghị trích khấu hao máy móc hàng tháng thay vì dồn vào kỳ 6 tháng một lần để đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và doanh thu trong từng kỳ kế toán.
  5. Giải pháp thứ năm: Biện pháp tiết kiệm chi phí sản xuất. Đề ra các biện pháp quản lý sử dụng vật tư, nâng cao năng suất thiết bị thi công và tiết giảm chi phí quản lý hành chính tại công trường.

Khóa luận đồng thời xác định các điều kiện thực hiện giải pháp từ hai phía: Nhà nước (ổn định khung pháp lý, định mức kinh tế kỹ thuật trong xây dựng cơ bản) và Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Tây Hồ (nâng cao trình độ đội ngũ nhân sự kế toán, nâng cấp hạ tầng công nghệ và hoàn thiện quy chế khoán nội bộ).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã phác thảo chi tiết thực tế vận hành công tác kế toán chi phí xây lắp tại một doanh nghiệp quốc phòng thi công công trình Cải tạo, sửa chữa nền nhà S13 khu A - Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự trong kỳ kế toán tháng 01/2013:

Khoản mục chi phí Tài khoản hạch toán Tiêu thức tập hợp và phân bổ Chứng từ và đặc điểm ghi nhận thực tế
Chi phí NVL trực tiếp TK 621 Tập hợp trực tiếp cho công trình (Mã CT04). Phiếu xuất kho, hóa đơn GTGT; ghi nhận qua quan hệ nội bộ Nợ TK 621 / Có TK 1361.21.
Chi phí nhân công trực tiếp TK 622 Tập hợp trực tiếp theo tổ nhận khoán. Hợp đồng giao khoán, bảng chấm công, bảng nghiệm thu công việc; không gồm các khoản trích theo lương.
Chi phí sử dụng máy thi công TK 623 Tập hợp trực tiếp; không mở chi tiết TK 623. Hợp đồng thuê máy, hóa đơn dịch vụ; khấu hao máy chỉ trích 2 lần/năm (tháng 6 và 12).
Chi phí sản xuất chung TK 627 (6271 - 6278) Phân bổ trích theo lương theo doanh thu quý; chi phí xí nghiệp theo chi phí trực tiếp. Phân bổ chi phí xí nghiệp cho công trình tháng 01/2013 đạt 38.000.000 VNĐ; tổng CPSXC là 64.542.000 VNĐ.
Tổng hợp chi phí SXKD TK 154 (1541 - 1544) Kết chuyển cuối tháng sau khi công ty duyệt chi phí. Căn cứ Bảng duyệt thanh toán chi tiết; ghi sổ Cái TK 154 theo hình thức Chứng từ - Ghi sổ.

Đóng góp của khóa luận nằm ở việc chỉ rõ sự phân tách và phối hợp giữa hai cấp kế toán (cấp đội thi công và cấp công ty), làm rõ quy trình chuyển giao và phê duyệt chứng từ qua tài khoản thanh toán nội bộ (TK 1361.21). Hệ thống 5 nhóm giải pháp của tác giả đã bám sát các bất cập thực tế của công ty như việc trích khấu hao máy thi công 6 tháng một lần hay sự thiếu đồng nhất về hình thức sổ sách kế toán giữa đơn vị cấp dưới và cấp điều hành trung tâm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thể hiện một số giới hạn nghiên cứu được tác giả nêu rõ:

  • Về phạm vi dữ liệu: Do điều kiện thời gian thực tập có hạn (từ 07/01/2013 đến 05/04/2013) và khả năng nghiên cứu của sinh viên, dữ liệu khảo sát tập trung chủ yếu vào số liệu phát sinh trong tháng 01/2013 của một công trình đơn lẻ (Gói thầu số 7 nền nhà S13 tại Học viện Kỹ thuật Quân sự) do Đội Xây dựng số 10 đảm nhận, chưa bao quát được chu kỳ thi công trọn vẹn từ lúc khởi công đến quyết toán bàn giao.
  • Về phạm vi kế toán: Đề tài mới chỉ dừng lại ở khâu tập hợp chi phí sản xuất xây lắp dở dang (TK 154) trong tháng, chưa mở rộng phân tích chuyên sâu về quy trình tính giá thành hoàn thành thực tế và xác định kết quả kinh doanh của gói thầu.

Hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo bao gồm việc theo dõi toàn bộ quy trình tính giá thành và nghiệm thu bàn giao toàn bộ công trình; mở rộng khảo sát so sánh công tác kế toán chi phí giữa nhiều đội xây dựng và xí nghiệp khác nhau trong toàn công ty; đồng thời nghiên cứu cơ chế kiểm soát chi phí thực tế đối chiếu với dự toán kỹ thuật thi công ban đầu.

Giá trị tham khảo

Báo cáo nghiên cứu của khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán và Kế toán doanh nghiệp xây dựng: Tài liệu cung cấp ví dụ thực tế về phương pháp luân chuyển chứng từ, lập bảng kê chi phí và định khoản kế toán xây lắp trong mô hình giao khoán nội bộ.
  • Kế toán viên tại các doanh nghiệp xây dựng: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp phân chia chi phí sản xuất chung thành chi phí tại công trường và chi phí tại xí nghiệp, cũng như công thức phân bổ chi phí xí nghiệp theo tỷ lệ chi phí trực tiếp.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất: Quy trình kiểm soát, phê duyệt chứng từ chi phí thông qua Bảng duyệt thanh toán chi phí chi tiết và cách thức thiết lập mã vụ việc, mã đơn vị để quản lý công trình trên phần mềm kế toán Fast Accounting 2010.03.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp áp dụng hình thức ghi sổ kế toán nào tại văn phòng công ty và tại các đơn vị trực thuộc? Tại văn phòng Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Tây Hồ, hình thức ghi sổ kế toán được áp dụng là hình thức Chứng từ - Ghi sổ. Trong khi đó, tại các đơn vị trực thuộc như các đội và xí nghiệp xây dựng, hình thức sổ kế toán được sử dụng là hình thức Nhật ký chung.

Chi phí khấu hao máy thi công được công ty trích và hạch toán như thế nào? Công ty quản lý máy thi công tập trung chứ không giao cho từng đội quản lý. Việc tính và phân bổ khấu hao máy thi công được thực hiện định kỳ 6 tháng một lần (vào tháng 6 và tháng 12) theo phương pháp đường thẳng; các tháng còn lại trong năm không ghi nhận chi phí khấu hao máy thi công trên sổ sách.

Tiêu thức nào được sử dụng để phân bổ chi phí sản xuất chung của đội/xí nghiệp cho từng công trình? Chi phí sản xuất chung của đội/xí nghiệp được phân bổ cho các công trình căn cứ vào tỷ lệ tổng chi phí trực tiếp phát sinh tại từng công trình trong kỳ theo công thức: $C_{ci} = (C_c / C_{tti}) \times C_{tti}$.

Các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp xây dựng có được tính vào chi phí nhân công trực tiếp không? Không. Theo chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp xây lắp, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN của công nhân trực tiếp sản xuất không hạch toán vào TK 622 mà được tập hợp và hạch toán vào chi phí sản xuất chung (TK 627).

Phương pháp kế toán hàng tồn kho và tính giá vật liệu xuất kho tại công ty là gì? Công ty áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán hàng tồn kho và xác định trị giá nguyên vật liệu xuất kho theo phương pháp thực tế đích danh.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đặng Hồi Nam đã phản ánh trung thực và có hệ thống thực trạng kế toán chi phí xây lắp tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Tây Hồ thông qua công trình Cải tạo, sửa chữa nền nhà S13 khu A - Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự trong năm 2013. Tác giả đã kết hợp lý luận chuẩn mực kế toán hiện hành với chứng từ thực tế tại doanh nghiệp, làm rõ phương pháp tập hợp và phân bổ các khoản mục chi phí từ cấp đội sản xuất đến văn phòng công ty. Trên cơ sở chỉ ra những bất cập về phân bổ khấu hao máy móc và đồng bộ sổ sách kế toán, nghiên cứu đã đề xuất năm nhóm giải pháp có tính ứng dụng nhằm hoàn thiện công tác quản lý và hạch toán chi phí xây lắp tại đơn vị.