phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục kết luận, kết cấu luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chƣơng 2: Những vấn đề cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Chƣơng 3: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sản phẩm tại công ty Cổ phần Nồi hơi Việt Nam. Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần Nồi hơi Việt Nam.
8 CHƢƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 2. Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 2. Bản chất và nội dung của chi phí sản xuất Sự hình thành và phát triển của xã hội loài ngƣời gắn liền với quá trình lao động, sản xuất để tạo ra của cải vật chất. Để tạo ra sản phẩm đòi hỏi phải bỏ ra một lƣợng vật chất cụ thể (vật tƣ, máy móc thiết bị.) kết hợp với sức lao động của con ngƣời trong một khoảng thời gian nhất định.
Nhƣ vậy, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có đủ ba yếu tố đó là: Tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp ba yếu tố đó để tạo ra các sản phẩm lao vụ và dịch vụ. Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá trình sản xuất kinh doanh đã tạo ra các chi phí tƣơng ứng, đó là các chi phí về tƣ liệu lao động, chi phí về đối tƣợng lao động và chi phí về lao động sống. Việc nghiên cứu và nhận thức chi phí còn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận trong từng loại kế toán khác nhau: - Theo quan điểm kế toán tài chính: Chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các hao phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định biểu hiện dƣới hình thái tiền tệ.
- Theo quan điểm kế toán quản trị: Chi phí có thể là dòng phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định, chi phí có thể là dòng phí tổn ƣớc tính để thực hiện dự án, những lợi ích mất đi do lựa chọn phƣơng án, hy sinh cơ hội kinh doanh. 9 - Theo chế độ kế toán Việt Nam, chi phí sản xuất đƣợc hiểu nhƣ sau: Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Trong đó chi phí lao động sống bao gồm: tiền lƣơng, các khoản trích theo lƣơng và các khoản có tính chất lƣơng; còn lao động vật hoá bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhiên liệu và chi phí khấu hao TSCĐ… - Trên góc độ của kế toán tài chính: Chi phí đƣợc nhìn nhận nhƣ những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt đƣợc một sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định. Chi phí đƣợc xác định bằng tiền của những hao phí về lao động sống, lao động vật hoá… trên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn.
- Trên góc độ kế toán quản trị: Mục đích của kế toán quản trị chi phí là cung cấp thông tin chi phí thích hợp, hữu ích, kịp thời cho việc ra quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp. Vì vậy trong kế toán quản trị chi phí không chỉ đơn thuần nhận thức chi phí nhƣ kế toán tài chính, chi phí còn đƣợc nhận thức theo phƣơng thức nhận diện thông tin ra quyết định. + Chi phí có thể là phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định. + Chi phí cũng có thể là phí tổn ƣớc tính để thực hiện dự án, những phí tổn mất đi khi lựa chọn phƣơng án, bỏ qua cơ hội kinh doanh.
Vậy: Chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốn của một nhà sản xuất hay doanh nghiệp vào đối tƣợng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu đƣợc lợi nhuận. Bản chất và nội dung của giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm là toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa, các chi phí khác đƣợc dùng để sản xuất và tiêu thụ một đơn vị hoặc một khối lƣợng sản phẩm. Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, có chức năng phản ánh kết quả sử dụng các nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh. Giá thành cung cấp thông tin giúp nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó làm cơ sở cho doanh nghiệp định giá bán sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là một phạm trù sản xuất hàng hóa, phản ánh lƣợng giá trị của những hao phí lao động sống, lao động vật hóa đã thực sự chi ra cho sản xuất và tiêu thụ cho sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải đƣợc bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất bao gồm 2 mặt: Mặt hao phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất. Tất cả những khoản chi phí (phát sinh trong kỳ, kỳ trƣớc chuyển sang) và các chi phí trích trƣớc có liên quan đến khối lƣợng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhƣng có liên quan đến khối lƣợng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và tính giá sản phẩm Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau vì quá trình sản xuất là quá trình thống nhất bao gồm 2 mặt: hao phí sản xuất và kết quả sản xuất. Cả chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đều là biểu hiện bằng tiền của những chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt 11 động sản xuất kinh doanh. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu kinh tế trong đó chi phí sản xuất phản ánh hao phí sản xuất còn giá thành sản phẩm phản ánh mặt kết quả sản xuất.
Trong công tác hạch toán kế toán, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai công việc liên tiếp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá thành sản phẩm. Đồng thời công tác tập hợp chi phí sản xuất chính xác đầy đủ, một cách khoa học hợp lý sẽ làm tăng tính chính xác của thông tin giá thành sản phẩm. Bên cạnh đó, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có những điểm khác nhau.
Về mặt thời gian, chi phí sản xuất gắn liền với một thời kỳ nhất định còn giá thành sản phẩm liên quan đến nhiều kỳ. Về mặt giá trị, chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí bỏ ra trong kỳ sản xuất kinh doanh không tính đến việc chi phí đó có liên quan đến khối lƣợng sản phẩm đã hoàn thành hay chƣa trong khi đó giá thành sản phẩm là chỉ tiêu luôn gắn với sản phẩm hoàn thành, bao gồm chi phí tính cho khối lƣợng sản phẩm hoàn thành trong kỳ mà không tính đến chi phí đó phát sinh ở kỳ nào. Ta có công thức thể hiện mối liên hệ giữa giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất nhƣ sau: Chi phí sản xuất phát Tổng giá thành Chi phí sản sinh trong kỳ (đã trừ Chi phí sản xuất sản phẩm hoàn = xuất dở dang + - (2.1) các khoản thu hồi ghi dở dang cuối kỳ thành đầu kỳ giảm chi phí ) 2. Kế toán chi phí sản xuất và tính giá sản phẩm dƣới góc độ kế toán tài chính 2.
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất và tính giá sản phẩm 2. Đối tượng kế toán chi phí sản xuất 12 Đối tƣợng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp chi phí sản xuất nhằm đáp ứng các yêu cầu kiểm soát chi phí và phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm. Giới hạn và phạm vi để tập hợp chi phí sản xuất có thể là nơi phát sinh chi phí (các phân xƣởng, tổ đội sản xuất…) hoặc là nơi chịu chi phí (các loại sản phẩm, công việc, lao vụ, các đơn đặt hàng…) Thực chất của việc xác định đối tƣợng kế toán chi phí sản xuất là xác định nơi phát sinh chi phí (phân xƣởng, bộ phận sản xuất, giai đoạn công nghệ…) hoặc đối tƣợng chịu chi phí (sản phẩm, đơn đặt hàng…) Xác định đúng đắn đối tƣợng tập hợp chi phí sản xuất hợp lý và khoa học, phù hợp với đặc điểm quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm sẽ tạo thuận lợi cho công tác quản lý và tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Đối tượng tính giá thành sản phẩm Đối tƣợng tính giá thành trong doanh nghiệp là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ mà doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Cũng nhƣ khi xác định đối tƣợng kế toán chi phí sản xuất, việc xác định đối tƣợng tính giá thành cũng cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, chu kỳ sản xuất sản phẩm, yêu cầu quản lý cũng nhƣ tính chất của từng loại sản phẩm cụ thể. Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc thì từng sản phẩm đƣợc xác định là đối tƣợng tính giá thành. Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạt theo đơn đặt hàng hoàn thành thì từng loạt sản phẩm và đơn vị sản phẩm thuộc từng đơn đặt hàng hoàn thành là đối tƣợng tính giá thành. Doanh nghiệp tổ chức sản xuất khối lƣợng lớn, mặt hàng ổn định thì đối tƣợng tính 13 giá thành là từng loại sản phẩm, dịch vụ và đơn vị sản phẩm, dịch vụ sản xuất hoàn thành.