MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai gắn liền với con người cùng các hoạt động sản xuất và các lĩnh vực khác như: kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, theo mục 2, điều 3 của bộ luật đất đai 2013 "Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định". Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường liên quan đến các vấn đề về đất thì sự quản lí của nhà nước luôn luôn cần thiết và cấp bách. Dưới góc độ pháp lý, việc quản lý, giải quyết các vấn đề liên quan đến đất trong thực tiễn không thể có hiệu quả nếu không có một công cụ cụ thể để quản lý nguồn tài nguyên này, vì khi đó không có cơ quan thẩm quyền giải quyết để xây dựng trình tự, thủ tục cũng như không có công cụ pháp lý để áp dụng để giải quyết đến các vấn đề liên quan.
Vì vậy, việc hình thành nên cấp giấy quyền sử dụng đất để làm rõ nội hàm vấn đề cần giải quyết, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong công tác quản lí đất đai. Từ thực tiễn các vấn đề liên quan đến đất nên cần một công tác cấp GCN quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận thể hiện tính pháp lý nhằm củng cố mối quan hệ "song phương" giữa nhà nước và người sử dụng đất. Nhận thức được thực tiễn và tầm quan trọng của công tác kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, với vai trò là một sinh viên đang thực tập tốt nghiệp cùng với sự giúp đỡ tận tình hướng dẫn của giảng viên TS. Vũ Thị Thanh Thủy, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực hiện công tác kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn Luan van 2 liền với đất tại xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên năm 2020”.
Mục tiêu thực hiện - Thông qua quá trình thực tập và thực hiện đề tài biết được quy trình cấp GCNQSDĐ cụ thể tại các xóm thuộc xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. -Tìm hiểu nhận ra các ưu điểm, nhược điểm trong khi thực hiện công tác kê khai, đăng kí cấp đổi cấp mới GCNQSDĐ. - Rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân, áp dụng được những lí thuyết sách vở vào thực tiễn công việc, đưa ra những đề xuất, các giải pháp có tính khả thi khi thực hiện công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn xã. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Bản thân đã áp dụng, bổ sung và củng cố những kiến thức đã được học vào thực tế công việc. Song song với đó có thể tiếp cận và nhận thấy được những thuận lợi cũng như khó khăn trong công tác kê khai cấp GCNQSDĐ trong thực tế. Ý nghĩa trong thực tiễn Qua quá trình thực tập, nghiên cứu thực hiện đề tài cấp GCNQSDĐ, thấy được những ưu điểm, khuyết điểm đã làm được trong quá trình thực hiện. Từ đó rút ra những kinh nghiệm và tìm những phương hướng, giải pháp phù hợp với tình hình thực tế góp phần thúc đẩy công tác thực hiện cấp GCNQSDĐ nói riêng và công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung được tốt hơn.
Luan van 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Đăng kí đất đai * Khái niệm đăng kí đất đai: Tại khoản 15 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định[1]: “Đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính”. * Khái niệm đăng ký quyền sở hữu nhà ở Đăng ký quyền sở hữu nhà ở là việc cá nhân, tổ chức sau khi hoàn thành, tạo lập nhà ở hợp pháp thì đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật. * Khái niệm đăng ký quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất: Theo Điều 3 Luật Đất đai năm 2013: “đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính”.
* Hình thức đăng ký đất đai: Có hai hình thức chính đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: - Đăng ký đất lần đầu: là đăng ký cho những người sử dụng đất chưa đăng ký lần nào. - Đăng ký biến động: là đăng ký đất đai cho người sử dụng đất có giấy chứng nhận nhưng trong quá trình sử dụng có sự thay đổi. Quyền sử dụng đất Quyền sử dụng đất là quyền nhà nước sử dụng đất đai gián tiếp, thông qua việc thu thuế. Các chủ sử dụng là người sử dụng đất trực tiếp được nhà nước cho phép.
Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Theo “Điều 181 Luật dân sự Việt Nam” nhà ở là một bất động sản không thể di dời và quyền sở hữu nhà ở cũng như quyền sở hữu các tài sản khác bao gồm quyền chiếm đoạt, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Chủ sở hữu nhà ở là người có đầy đủ các quyền đó. Tuy nhiên quyền sở hữu nhà ở cũng có thể tách rời như đối với đất, nghĩa là chủ sở hữu có thể chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền sử dụng nhà ở và quyền chiếm hữu nhà ở của mình cho người khác trong một khoảng thời gian và không gian xác định, đó là khi chủ sở hữu cho thuê nhà, cho mượn nhà. Việc quy định phân chia quyền hạn giữa chủ sở hữu nhà và người sử dụng nhà không tuân theo một quy tắc cứng nhắc mà tuân theo sự thỏa thuận giữa hai bên.
Khái niệm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất * Khái niệm Theo quy định tại Khoản 16, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”. Sự cần thiết phải cấp GCNQSDĐ -Khuyến khích chủ sử dụng đầu tư vào đất đai; - Mở rộng khả năng vay vốn; - Hỗ trợ các giao dịch về đât đai; Luan van 5 - Giảm tranh chấp đất đai. Dưới góc độ pháp lý, việc quản lý, giải quyết các vấn đề liên quan đến đất trong thực tiễn không thể có hiệu quả nếu không có một công cụ cụ thể để quản lý nguồn tài nguyên này, vì khi đó không có cơ quan thẩm quyền giải quyết để xây dựng trình tự, thủ tục cũng như không có công cụ pháp lý để áp dụng để giải quyết đến các vấn đề liên quan. Vì vậy, việc hình thành nên cấp giấy quyền sử dụng đất để làm rõ nội hàm vấn đề cần giải quyết, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong công tác quản lí đất đai.
Từ thực tiễn các vấn đề liên quan đến đất nên cần một công tác cấp GCN quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận thể hiện tính pháp lý nhằm củng cố mối quan hệ "song phương" giữa nhà nước và người sử dụng đất. Căn cứ pháp lý cấp GCN * Từ khi luật đất đai 2013 ra đời đến nay: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014 của Chính phủ “Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai”. – Nghị định số 01/2017/NĐ-CP, ngày 06/01/2017 của Chính phủ “Quy định sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai”. – Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường “Quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.
– Thông tư số 156/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ. – Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường “Quy định về Hồ sơ địa chính”. Luan van 6 – Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Cơ sở thực tiễn 2.
Tình hình cấp giấy chứng nhận tại Việt Nam Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường), năm 2019 tỷ lệ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu tổng hợp từ các địa phương đạt trên 97,36% tổng diện tích các loại đất cần cấp, tăng 0,16% so với cùng kỳ năm 2018. Đến nay, cả nước đã đo đạc lập bản đồ địa chính đạt trên 77% tổng diện tích tự nhiên; tỷ lệ cấp GCN lần đầu tổng hợp từ kết quả thực hiện của các địa phương đạt trên 97,36% tổng diện tích các loại đất cần cấp (tăng lên 0,16%, tương đương khoảng 20.900 GCN so với cùng kỳ năm 2018). Kết quả này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai, bảo đảm điều kiện pháp lý cho người sử dụng đất thực hiện các quyền, nghĩa vụ hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật đất đai. Một số kết quả nghiên cứu về công tác cấp GCNQSDĐ.
* Sáng ngày 24/5/2019, UBND thành phố Hưng Yên tổ chức cuộc họp giao ban các đồng chí lãnh đạo UBND thành phố nhằm xem xét, đánh giá kết quả thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu và thành lập mới các hợp tác xã, tổ hợp tác 5 tháng đầu năm 2019.