Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng 1. Khái niệm tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng Quan hệ tín dụng phát sinh trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa TCTD và khách hàng vay. Thông thường, để được vay vốn tại các TCTD, khách hàng phải có tài sản hoặc có người bảo lãnh để đảm bảo, dự phòng cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, và người bảo lãnh cũng phải có tài sản để cho nghĩa vụ bảo lãnh, tài sản đó được hiểu là tài sản bảo đảm.
Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 thì “tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Theo quy định tại điều 174 BLDS 2015 thì tài sản được quy định bổ sung thêm là bất động sản và động sản. Để nhận diện được tài sản thì cần chỉ ra các đặc điểm pháp lý của chúng, theo đó tài sản có các đặc điểm pháp lý cơ bản như sau: (i) Tài sản phải trị giá được bằng tiền; (ii) Tài sản là những đối tượng mà con người có thể kiểm soát được. Nếu là vật hữu hình thì con người phải nắm giữ hoặc chiếm giữ được; nếu là vật vô hình thì phải có cách thức để quản lý.
Theo Từ điển Luật học, tài sản bảo đảm là “tài sản được bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo đảm thông qua các biện pháp bảo đảm như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, kí cược, kí quỹ, đặt cọc …” Điều 295 Bộ luật dân sự năm 2015 đã đề cập đến khái niệm tài sản bảo đảm, theo đó tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu. Cụ thể hóa quy định này, Khoản 7 Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm do Chính phủ ban hành ngày 29/12/2006 và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, có hiệu lực kể từ ngày 10 6 luan an tháng 4 năm 2012 đã quy định “Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm.” Tài sản bảo đảm là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch. Như vậy có thể thấy phạm vi tài sản có thể đem bảo đảm được mở rộng, không chỉ là những tài sản phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm rồi mà còn bao gồm cả những tài sản hình thành trong tương lai, hoa lợi thu được từ cây trồng, hoặc các khoản có thể thu khác.… chính là những tài sản mà tại thời điểm giao dịch bảo đảm được xác lập, thì những tài sản này chưa hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm. Tài sản bảo đảm tiền vay có những nét đặc trưng cơ bản.
Thực chất của bảo đảm tiền vay là sử dụng những giá trị của tài sản làm bảo đảm để trả nợ thay cho các khoản vay không có khả năng trả nợ ngân hàng. Vậy, tài sản bảo đảm tiền vay phải có giá trị, bản thân nó phải trở thành hàng hoá, có nghĩa là khi chuyển giao quyền sở hữu thì đồng thời cũng phải đạt được sự chuyển đổi từ hiện vật thành giá trị để trả nợ ngân hàng. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với các khoản cho vay có tài sản làm bảo đảm nợ vay là tài sản đó phải là hàng hóa, có giá trị lớn hơn giá trị khoản vay, có thị trường tiêu thụ cho hàng hoá đó để thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Hay nói cách khác, để ngân hàng chấp thuận một loại bảo đảm tín dụng nào đó, nó phải thoả mãn các điều kiện sau: Phải dễ dàng xác định; Phải có giá trị và tuổi thọ tương đối dài; Ngân hàng phải có khả năng định giá phù hợp với giá trị của tài sản; Phải dễ bán; Phải có một thị trường hiện tại của nó.
Việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự trước hết là dựa vào sự tự giác của các bên nhưng trong thực tế không phải bất cứ ai khi tham gia giao dịch đều có thiện chí trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình. Để nghĩa vụ cam kết được đảm bảo thực hiện và bên có quyền trong quan hệ đó có được thế chủ động trong viêc được hưởng quyền đó, pháp luật cho phép các bên có thể thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự. Trong các biện pháp bảo đảm tiền vay thì biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản là biện pháp có tính phổ biến nhất bởi khi bảo đảm bằng tài sản bên cho vay sẽ có được độ an toàn cao hơn, tránh được rủi ro bị thất thoát khoản vay. 7 luan an Thứ nhất: Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp Theo điều 317 Bộ luật dân sự 2015 thì “thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)".
Như vậy, thế chấp tài sản là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ do hai bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Thế chấp tài sản là hình thức theo đó bên đi vay phải chuyển các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng các tài sản bảo đảm cho bên cho vay nắm giữ trong thời gian thỏa thuận để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với bên cho vay. Tuy nhiên không phải tất cả các loại tài sản đều có thể đem đi thế chấp mà nó phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định, tùy thuộc vào quy định của pháp luật. Tài sản là động sản, bất động sản, quyền sử dụng đất có thể thế chấp để bảo đảm tiền vay theo quy định tại Điều 318 Bộ luật dân sự năm 2015.
Thứ hai: Bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố Theo điều 309 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Cầm cố tài sản là việcầmột bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”. Như vậy, bản chất của cầm cố là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo đó bên có nghĩa vụ giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên có quyền để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ; nếu tài sản cầm cố có đăng ký quyền sở hữu thì các bên có thể thỏa thuận bên cầm cố vẫn giữ tài sản hoặc giao cho bên thứ ba giữ. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, cầm cố tài sản được hiểu là việc khách hàng (bên vay vốn) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình giao cho tổ chức tín dụng (bên cho vay) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Thứ ba: Bảo đảm tiền vay bằng tài sản của người thứ ba Bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba là biện pháp bảo đảm trong đó bên thứ ba sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình thế chấp hoặc cầm cố cho Ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Bản chất của bảo đảm bằng tài sản của người thứ ba cũng chính là biện pháp bằng thế chấp hoặc cầm cố tài sản nhưng chủ thể đưa tài sản vào thế chấp hoặc cầm cố không phải là bên vay vốn mà là người khác. 8 luan an Thứ tư: Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành trong tương lai Thế chấp tài sản hình thành trong tương lai là một biện pháp bảo đảm phổ biến áp dụng trong hoạt động kinh doanh dự án bất động sản, theo đó tài sản hình thành trong tương lại được thế chấp cho Ngân hàng để vay vốn thực hiện dự án. Do đó, pháp luật quy định quyền huy động vốn của chủ đầu tư phải đáp ứng một số quy định tại Điều 147 Luật nhà ở 2014, theo đó Tổ chức, cá nhân xây dựng nhà ở hình thành trong tương lai trên thửa đất ở hợp pháp của mình; tổ chức, cá nhân mua nhà ở hình thành trong tương lai trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở của chủ đầu tư được thế chấp nhà ở này tại tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam để vay vốn phục vụ cho xây dựng nhà ở hoặc để mua chính nhà ở đó.
Việc thế chấp dự án đầu tư xây dựng nhà ở và thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai chỉ được thực hiện theo quy định tại Luật này; các trường hợp thế chấp tài sản là dự án đầu tư xây dựng nhà ở hoặcầnhà ở hình thành trong tương lai không đúng với quy định tại Luật này thì không có giá trị pháp lý. Tài sản hình thành trong tương lai có thể hiểu là loại tài sản tồn tại hoặc chưa tồn tại ở tại thời điểm giao dịch. Tuy nhiên, nó được đảm bảo thuộc quyền sở hữu của cá nhân hoặc tổ chứcầnhất định trong giao dịch về tài sản đó. Có nghĩa là tài sản hình thành trong tương lai gồm cả tài sản chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng việc chuyển giao quyền sở hữu cho bên bảo đảm chưa được hoàn thành.
Khái niệm kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng Trong lịch sử hình thành, phát triển của loài người đã trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau. Giai đoạn chưa có Nhà nước đó là thời kỳ Công xã nguyên thủy Con người sống từng bầy đàn, xã hội chưa phân chia thành giai cấp, việc quản lý xã hội bằng uy tín, tự giác trong xã hội. Các quan hệ xã hội được giải quyết bằng cách noi gương, giải thích, thuyết phục các thành viên trong xã hội tự nguyện thực hiện, việc cưỡng chế trong giai đoạn này không đặt ra. Đến giai đoạn xuất hiện Nhà nước (Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư bản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa) đồng thời xuất hiện các giai cấp trong xã hội, các quan hệ xã hội ngày càng nhiều, các mâu thuẫn, tranh chấp trong xã hội gia tăng.