Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các nghiên cứu lý thuyết khu công nghiệp sinh thái Cote và cộng sự (1994) trong bài viết ―Designing and Operating Industrial Parks as Ecosystems‖, Dalhousie University. Đây được xem là công trình tiêu biểu đầu tiên hệ thống hóa khái niệm KCNST. Theo đó, KCNST là hệ thống công nghiệp trong đó các nguồn lực tự nhiên và kinh tế được bảo tồn, giảm nguyên phụ liệu sản xuất, năng lượng, chi phí bảo hiểm, bảo trì, cải thiện hiệu quả vận hành, chất lượng, hình ảnh công cộng và sức khỏe người lao động, cung cấp cơ hội cho việc sử dụng và kinh doanh các chất thải.
Năm 2004, Cote trong bài viết ―The Industrial park as an Ecosystem industrial ecology Research group‖ tiếp tục đi sâu tìm hiểu khái niệm KCNST bằng cách nhấn mạnh thêm nhân tố sự kết hợp giữa các tác nhân bên trong và bên ngoài KCN. Lowe và Evans (1995), ―Industrial ecology and industrial ecosystems‖, Journal of Cleaner Production. Công trình của hai tác giả cũng là một trong các công trình tiêu biểu luận giải chi tiết các cấu thành của KCNST. Nhóm tác giả cho rằng KCNST là tập hợp các cơ sở sản xuất và dịch vụ tìm kiếm các giải pháp nâng cao chất lượng môi trường và hiệu quả kinh tế bằng cách phối hợp quản lý môi trường và tài nguyên (bao gồm năng lượng, nước và nguyên vật liệu).
Bằng cách này, các nhà máy trong cùng KCNST sẽ thu được những lợi ích chung lớn hơn nhiều so với tổng lợi ích mà từng nhà máy đạt được khi tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của riêng cơ sở mình. Lowe (2001), Eco-industrial Park Hanbook for Asian Developing Countries, Report to Asian Development Bank. Bên cạnh việc đưa ra các khái niệm, đặc điểm, lợi ích, tiêu chí để hình thành KCNST, tác giả còn cho rằng công cụ chính của chính sách là tạo ra các cách để khuyến khích công ty đầu tư hạ tầng KCNST và các chủ đầu tư của các cơ sở sản xuất trong KCNST. Đây là hình thức phát triển công nghiệp hướng đến các lợi ích về môi trường, kinh tế và xã hội.
Cộng đồng dân cư sẽ được hưởng lợi nhờ giảm nguy cơ tác động từ các nguồn gây ô nhiễm do hoạt động công nghiệp và tăng trưởng kinh tế chung của khu vực. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu rộng, đưa ra các giải pháp chung cho hầu hết các quốc gia Châu Á mà chưa xem xét đến các yếu tố chính trị, tiềm lực kinh tế, vị trí địa lý và đặc điểm văn hóa con người của từng quốc gia để áp dụng các công cụ chính sách phù hợp với từng quốc gia. Đồng thời, tác giả cũng chưa nghiên cứu trường hợp Việt Nam trong tác phẩm này. Chertow (2007), ―Uncovering Industrial Symbiosis‖, Journal of Industrial Ecology.
Tác giả đã xây dựng khái niệm KCNST thông qua hình thức cộng sinh công nghiệp. Tác giả lập luận cộng sinh công nghiệp là một phần mới nổi của hệ sinh thái công nghiệp yêu cầu sự tập trung tuyệt đối vào dòng luân chuyển của nguyên liệu và năng lượng thông qua các chủ thể kinh tế địa phương và khu vực. Theo cách hiểu truyền thống, cộng sinh công nghiệp phân biệt các ngành công nghiệp bởi cách tiếp cận hợp tác liên quan đến vác vấn đề trao đổi cơ học về các vấn đề nguyên vật liệu, năng lượng, nguồn nước, hoặc bởi các loại sản phẩm. Như vậy, nhân tố quan trọng của cộng sinh công nghiệp là sự hợp tác và khả năng hiệp lực được yêu cầu bởi sự gần kề về mặt địa lý.
Như vậy có thể thấy, có rất nhiều học giả và các tổ chức trên thế giới cố gắng đi tìm kiếm định nghĩa chung, đặc trưng và thống nhất cho 11 KCNST. Tuy nhiên, vẫn còn những tranh cãi nhất định trong việc đưa ra một định nghĩa thống nhất về KCNST. Ở Việt Nam, tuy không có nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết KCNST nhưng đã có công trình nghiên cứu được công bố như: Tác giả Nguyễn Cao Lãnh (2005) đã xuất bản cuốn sách, Khu công nghiệp sinh thái - Một mô hình cho phát triển bền vững ở Việt Nam, do Nhà Xuất bản Khoa học kỹ thuật phát hành. Với quan điểm hệ công nghiệp không phải là các thực thể riêng rẽ mà là một tổng thể các hệ thống liên quan giống như hệ sinh thái, Sinh thái học công nghiệp tìm cách loại trừ khái niệm ―chất thải‖ trong sản xuất công nghiệp và mục tiêu cơ bản của nó là tăng cường hiệu quả của hoạt động công nghiệp và cải thiện môi trường như: giảm thiểu sử dụng tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo, giảm thiểu các tác động xấu môi trường, duy trì hệ sinh thái tự nhiên của khu vực,… Ngoài ra, tác phẩm còn có các nội dung như: Khái niệm và cơ sở khoa học của KCNST; phát triển KCNST; cơ cấu chức năng và các loại hình của KCNST.
Các nguyên tắc và chỉ dẫn quy hoạch thiết kế KCNST; kinh nghiệm xây dựng và phát triển một số KCNST của Mỹ, Trung Quốc, Đan Mạch. Tuy nhiên, nghiên cứu này còn tập trung vào vấn đề lý luận chung và đưa ra những tiêu chí khó áp dụng thực tế trong điều kiện Việt Nam. Các nghiên cứu về khu công nghiệp sinh thái Trung Quốc Trong các nghiên cứu về KCNST ở Trung Quốc, có rất nhiều nghiên cứu đề cập đến thực trạng phát triển, đặc biệt các trường hợp điển hình về KCNST ở Trung Quốc. Việc nghiên cứu có thể được tổng hợp trên hai xu hướng chính: nghiên cứu trường hợp và nghiên cứu ở phạm vi quốc gia.
Một số công trình điển hình liên quan đến nghiên cứu trường hợp ở Trung Quốc như sau: Công trình ―Ecological network analysis of an industrial symbiosis 12 system- a case study of the Shandong Lubei eco-industrial park‖ của các tác giả Zhang và cộng sự (2015) đăng trên tạp chí Ecological Modeling tập trung phân tích KCNST Lubei ở tỉnh Sơn Đông, một trong những KCNST cấp quốc gia thế hệ đầu tiên ở Trung Quốc. Tác giả cho rằng đây là KCNST được xem như là thành công ở cấp độ thế giới về hệ thống cộng sinh công nghiệp. Sự thành công của KCNST Lubei là kết quả của sự kết hợp mối quan hệ hài hòa giữa các thành viên và các tổ chức liên quan trong hệ thống. Dựa trên phân tích đặc trưng của KCN, các tác giả đã cung cấp nền tảng lý thuyết và thực tế nhằm cải thiện tính hiệu quả của các KCNST khác.
Nghiên cứu của Yu và cộng sự (2013) đăng trên tạp chí Journal of Cleaner Production với nhan đề ―Process analysis of eco-industrial park development–the case of Tianjin, China‖ không chỉ sâu phân tích các đặc trưng bên trong của KCNST, mà còn thảo luận tiến trình chuyển đổi từ KCN thông thường sang KCNST ở Tianjin. Các tác giả khẳng định có 5 nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các KCNST là thể chế, công nghệ, nhân tố tài chính, thông tin và khả năng của doanh nghiệp. Trong bối cảnh của Trung Quốc, về dài hạn theo các tác giả để chuyển đổi thì yếu tố môi trường thể chế giữ vai trò quan trọng hơn các yếu tố khác. Không đi theo lối truyền thống, bài viết ―Ecological Network analysis for carbon metabolism of eco-industrial pars: a case study of a typical eco-industrial park in Beijing‖ xuất bản trên Environmental Science and Technology của nhóm tác giả Lu và cộng sự (2015) lại đi nghiên cứu mạng lưới sinh thái trong KCNST ở Bắc Kinh, tức chỉ nhấn mạnh đến yếu tố sinh thái.
Công trình cho rằng các KCNST là những nỗ lực thực tế để làm giảm hiệu ứng nhà kính thông qua sự hợp tác giữa các chủ thể kinh doanh và các chính quyền địa phương. Sự hợp tác này giúp giảm phác thải và khí thải, chia sẻ nguồn lực hiệu quả, đồng thời giúp các 13 doanh nghiệp và địa phương theo đuổi chiến lược phát triển bền vững. Nghiên cứu tiến trình trao đổi các bon ở các KCNST ở Bắc Kinh, tác giả chỉ ra rằng hệ thống trao đổi được dẫn dắt bởi cung hàng hóa đến từ môi trường bên ngoài và cầu các sản phẩm cuối cùng. Nghiên cứu cũng cho biết trao đổi các bon ở các KCNST được xem là hệ thống tiến hóa với mức độ hiệu quả cao nhưng yêu cầu sự đầu tư tương đối lớn.
Đây cũng một trong số ít bài viết cung cấp khung khổ mô hình ý nghĩa của việc thiết kế và quản lý các bon thấp ở các KCN. Các nghiên cứu ở phạm vi quốc gia tiêu biểu với các công trình sau: Công trình nghiên cứu của Chu Jianpeng (2010), Establishing Eco- Industrial Park with the Concept of Circular Economy, http://www. Ở Trung Quốc, để thúc đẩy sự phát triển mô hình KCNST, Cục Bảo vệ Môi trường Quốc gia của Trung Quốc (the State Environmental Protection Administration of China – SEPA) đã xây dựng KCNST thí điểm vào năm 1999 và đưa ra Tiêu chuẩn để Xây dựng và Quản lý các KCNST (áp dụng thử vào năm 2006 và đến tháng 1 năm 2007 đã có 24 KCNST được thành lập trên cả nước) (Yiping Fang, 2008). Theo tác giả để thúc đẩy sự hình thành và phát triển mô hình KCNST cần: (1) áp dụng đòn bẩy kinh tế để khuyến khích hoạt động thu hồi, tái chế và tuần hoàn chất thải giữa các cơ sở sản xuất trong KCN với nhau và với bên ngoài; (2) áp dụng công nghệ hiện đại để giải quyết các vấn đề về tái chế chất thải, sản xuất thân thiện với môi trường; (3) xây dựng và ban hành các quy định và luật liên quan; (4) nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo thúc đẩy sự hình thành và phát triển KCNST bằng cách ban hành các chính sách về thuế, giá, và tài chính.
Chính quyền địa phương các cấp tham gia vào quá trình hình thành các KCNST thông qua việc xây dựng quy hoạch KCN, xác định các loại hình tái chế cần thiết và 14 có ảnh hưởng đến cộng đồng. Bên cạnh đó, cũng cần xem xét áp dụng các chính sách khuyến khích và kêu gọi các hoạt động tự nguyện khác hỗ trợ cho sự phát triển KCNST. Nghiên cứu này tuy làm rõ khái niệm về KCNST; hoặc tiêu chuẩn xây dựng; hay đề ra các công cụ chính sách hỗ trợ xây dựng và phát triển KCNST nhưng tác phẩm cũng chưa cập một số khía cạnh khác của KCNST như đặc điểm, lợi ích mà KCNST mang lại, tác hại đến môi trường trong quá trình phát triển công nghiệp,. Tuy nhiên, nghiên cứu này thiên về góc độ môi trường, chưa phân tích sâu về hiệu quả kinh tế.
Công trình ―Progress toward a Circular Economy in China: Drives and Inhibitors of Eco-industrial Initiative‖ đăng trên Journal of Industrial Ecology của hai tác giả Mathew và Tan (2011).