Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn chuyển giao văn học Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX, sự vận động từ phạm trù trung đại sang hiện đại diễn ra vô cùng mạnh mẽ với sự tham gia của hơn 50 cây bút xuất thân từ Nho học. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam (Mã số: 60 22 34) với đề tài "Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam" do tác giả Vũ Thị Vân thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Ngọc Vương tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009. Công trình giải quyết vấn đề then chốt: định vị lại toàn bộ trước tác văn học của Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947), tách khỏi sự bao phủ thuần túy của lăng kính chính trị để nhìn nhận ông như một tác gia văn học lớn có vai trò tiên phong trong buổi giao thời.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là khảo sát hệ thống hơn 100 tác phẩm đa dạng thể loại bao gồm thơ ca, phú, văn tế, xã thuyết báo chí, phê bình và dịch thuật trải dài qua 40 năm cầm bút. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 3 chặng đường lịch sử từ phong trào Duy Tân năm 1904, thời gian 13 năm đày ải tại Côn Đảo (1908 – 1921), cho đến giai đoạn làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Tiếng Dân tại Huế (1927 – 1943) và tham gia Chính phủ kháng chiến đến năm 1947. Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật sâu sắc khi thiết lập thang đo giá trị thẩm mỹ, chỉ rõ 2 chiều tác động tích cực lẫn hạn chế, đóng góp vào độ hoàn thiện của hệ thống văn học sử nước nhà đầu thế kỷ XX.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng 2 lý thuyết văn học nền tảng: lý thuyết loại hình học tác giả và lý thuyết tiến trình hiện đại hóa văn học phương Đông trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông – Tây. Mô hình nghiên cứu phân tích sự dịch chuyển từ mẫu hình "nhà nho tài tử" sang mẫu hình "nhà nho chí sĩ" và bước quá độ trở thành "nhà văn – nhà báo – trí thức công luận". Ba khái niệm trung tâm được xây dựng xuyên suốt gồm: ý thức trách nhiệm công dân thay thế cho lòng trung quân phong kiến cổ truyền, thi pháp giao thời với sự đan cài giữa quy phạm thi pháp trung đại và tư duy duy tân hiện đại, cùng khái niệm diễn ngôn báo chí quốc ngữ như phương thức hiện đại hóa văn chương.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được cấu thành từ 100% các văn bản thơ văn tuyển tập, các bài viết đăng tải trên 1.766 số báo Tiếng Dân xuất bản trong 16 năm, cùng các tư liệu lưu trữ từ nhà nghiên cứu Chương Thâu và Phạm Ngô Minh. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích đối với 45 văn bản tiêu biểu đại diện cho 3 giai đoạn sáng tác nhằm đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy văn bản học.

Phương pháp phân tích văn bản kết hợp phân tích lịch sử – cụ thể, đối chiếu so sánh đồng đại giữa Huỳnh Thúc Kháng với các nhân vật cùng thời như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế, và so sánh lịch đại với truyền thống thi pháp thời trung đại. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan tuyệt đối, tránh áp đặt cái nhìn hiện đại hóa thuần túy của giai đoạn 1930 – 1945 vào giai đoạn giao thời đầu thế kỷ. Quá trình thu thập, xử lý và giám định văn bản được thực hiện liên tục trong khoảng thời gian 24 tháng (2007 – 2009).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Luận văn đã làm sáng tỏ 4 phát hiện mang tính bước ngoặt về sự nghiệp văn chương của Huỳnh Thúc Kháng:

Thứ nhất, ở giai đoạn trước năm 1908, với tác phẩm khai nghiệp "Lương ngọc danh sơn phú" (viết chung với Trần Quý Cáp năm 1904) và bài thơ chữ Quốc ngữ "Cái văn chương" (1906), tác giả đã thực hiện cuộc cách tân tư tưởng quyết liệt, hạ bệ nền cử nghiệp khoa cử Nho học đã tồn tại hơn 900 năm, biến văn chương thành vũ khí trực tiếp thức tỉnh dân tộc theo phương châm "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh".

Thứ hai, trong 13 năm tù đày tại Côn Đảo (1908 – 1921), tác phẩm "Thi tù tùng thoại" ra đời đã kiến tạo nên một thể loại văn học ngục tù độc đáo bậc nhất. Đây là tập hợp tư liệu ghi chép lại tâm sự, thi ca của hơn 50 chí sĩ cách mạng, xác lập hình tượng "người tù quốc sự" – một khái niệm thẩm mỹ hoàn toàn mới mẻ chưa từng xuất hiện trong văn học trung đại phương Đông.

Thứ ba, giai đoạn 1927 – 1943 đánh dấu bước tiến xa nhất khi ông sáng lập và điều hành tờ báo Tiếng Dân tại Huế, tạo nên một cơ quan ngôn luận kiên cường với 1.766 số báo. Chữ Quốc ngữ chiếm tỷ lệ hơn 90% dung lượng sáng tác, biến thể loại văn xã thuyết, bình luận chính trị – xã hội và phê bình văn học trở thành công cụ đấu tranh công khai, chuyên nghiệp hóa ngòi bút nhà văn.

Thứ tư, nghiên cứu chỉ rõ tính nhị nguyên trong tư tưởng văn nghệ của ông vào thập niên 1930. Bên cạnh các hoạt động dịch thuật tiến bộ như cuốn "Xã hội tư tưởng ABC" hay "Tôn Tử Binh Pháp", ông vẫn bộc lộ hạn chế khi đứng trên lập trường đạo đức Nho giáo thủ cựu để phê phán Truyện Kiều và phản đối Thơ Mới trong các cuộc tranh luận giai đoạn 1930 – 1934.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân tạo nên diện mạo văn nghiệp độc đáo của Huỳnh Thúc Kháng bắt nguồn từ cốt cách xứ Quảng kiên trung, tinh thần "khắc kỷ phục lễ" của Nho giáo kết hợp với sự tiếp nhận nhạy bén nguồn Tân thư, Tân văn phương Tây. Trong tương quan so sánh với 2 nhà chí sĩ họ Phan, nếu Phan Bội Châu thiên về bạo động cách mạng với văn chương truyền cảm nồng nàn, Phan Châu Trinh thiên về cải cách ôn hòa triệt để, thì Huỳnh Thúc Kháng chọn con đường lập ngôn, đấu tranh nghị trường và báo chí hợp pháp, đi trọn vẹn từ phong trào Cần Vương, Duy Tân đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Dữ liệu văn nghiệp của Huỳnh Thúc Kháng khi được mô hình hóa qua đồ thị cấu trúc thể loại cho thấy sự chuyển biến rõ rệt: trước năm 1908 văn vần chữ Hán chiếm 80%, nhưng đến giai đoạn 1927 – 1943, văn xuôi chính luận và tiểu luận chữ Quốc ngữ chiếm tới 75% tổng dung lượng sáng tác. Điều này minh chứng cho tốc độ hiện đại hóa ngôn ngữ và thể loại văn học của một danh Nho đại khoa dưới tác động của làn sóng báo chí đầu thế kỷ XX.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm phát huy giá trị di sản văn học Huỳnh Thúc Kháng:

Một là, số hóa và biên định toàn tập trước tác văn học và báo chí của Huỳnh Thúc Kháng. Viện Văn học phối hợp cùng Thư viện Quốc gia hoàn thành số hóa 100% các ấn bản báo Tiếng Dân và các tác phẩm dịch thuật quý hiếm trong vòng 24 tháng tới nhằm phục vụ công tác tra cứu học thuật mở.

Hai là, cập nhật và bổ sung tác phẩm vào chương trình giảng dạy phổ thông và đại học. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các khoa Ngữ văn cần đưa tối thiểu 2 trích đoạn tiêu biểu từ tập "Thi tù tùng thoại" và bài phú "Lương ngọc danh sơn" vào phân phối chương trình văn học giai đoạn giao thời trong kế hoạch đổi mới giáo trình 3 năm tới.

Ba là, tổ chức các diễn đàn khoa học liên ngành định kỳ 2 năm một lần do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chủ trì, kết nối các nhà nghiên cứu Văn học, Lịch sử và Báo chí học để làm sáng tỏ thêm giá trị 1.766 số báo Tiếng Dân trong tiến trình dân chủ hóa xã hội.

Bốn là, trùng tu và phát triển không gian văn hóa di sản tại tỉnh Quảng Nam và thành phố Huế. Các cơ quan quản lý văn hóa địa phương cần quy hoạch tòa soạn báo Tiếng Dân tại số 123 đường Huỳnh Thúc Kháng (Huế) thành bảo tàng báo chí lưu niệm trước năm 2030 để thu hút 10.000 lượt khách tham quan, học tập mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tư liệu học thuật giá trị cao dành cho 4 nhóm độc giả trọng tâm:

Nhóm 1: Các giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lịch sử và Lý luận văn học cần khung phân tích chuẩn mực về giai đoạn văn học giao thời 1900 – 1930.

Nhóm 2: Sinh viên và nhà nghiên cứu ngành Báo chí – Truyền thông muốn khảo sát nguồn gốc, phong cách tác nghiệp và kỹ thuật viết văn chính luận trên báo chí Quốc ngữ thời kỳ đầu tại miền Trung.

Nhóm 3: Giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông có nhu cầu mở rộng tư liệu bài giảng về văn học yêu nước, cách mạng đầu thế kỷ XX và văn học ngục tù.

Nhóm 4: Các cơ quan quản lý văn hóa, bảo tàng học và độc giả quan tâm sâu sắc đến lịch sử đấu tranh cách mạng, danh nhân văn hóa xứ Quảng và tiến trình hiện đại hóa đất nước.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn này thuộc chuyên ngành nào và do ai hướng dẫn khoa học? Luận văn thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số đào tạo 60 22 34, do học viên Vũ Thị Vân thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Ngọc Vương tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội vào năm 2009.

Tác phẩm Thi tù tùng thoại có vị trí như thế nào trong nền văn học dân tộc? Tập sách ghi chép này ra đời trong 13 năm đày ải ở Côn Đảo, là công trình văn học ngục tù đầu tiên của Việt Nam ghi lại thơ văn của hơn 50 tù nhân chính trị, mở đầu cho dòng văn học cách mạng trong lao tù thế kỷ XX.

Báo Tiếng Dân đóng vai trò gì trong sự nghiệp văn học của Huỳnh Thúc Kháng? Tờ báo hoạt động liên tục suốt 16 năm (1927 – 1943) với 1.766 số xuất bản, là diễn đàn chính luận hàng đầu tại Trung Kỳ, giúp ông hiện đại hóa ngòi bút từ văn vần sang văn xuôi Quốc ngữ sắc bén.

Hạn chế chính trong quan điểm văn học của Huỳnh Thúc Kháng là gì? Hạn chế lớn nhất của ông là sự níu kéo thế giới quan Nho học truyền thống, dẫn đến thái độ khắt khe, bảo thủ trong cuộc tranh luận về giá trị thẩm mỹ của Truyện Kiều và sự xuất hiện của phong trào Thơ Mới những năm 1930 – 1934.

Vì sao đánh giá Huỳnh Thúc Kháng là chí sĩ tiến xa nhất trong thế hệ của ông? Ông là nhà Nho đỗ Tiến sĩ năm 1904 duy nhất đi trọn hành trình từ phong trào Duy Tân, trải qua 13 năm ngục tù Côn Đảo, lãnh đạo báo chí công khai và trở thành Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946.

Kết luận

  • Luận văn tái hiện toàn diện sự nghiệp trước tác hơn 40 năm của Huỳnh Thúc Kháng qua 3 giai đoạn lịch sử quan trọng.
  • Định vị xuất sắc tác phẩm "Thi tù tùng thoại" như cột mốc mở đầu cho thể loại văn học ngục tù hiện đại Việt Nam.
  • Khẳng định vai trò trụ cột của 1.766 số báo Tiếng Dân trong việc hoàn thiện thể loại văn chính luận bằng chữ Quốc ngữ.
  • Đánh giá khách quan, khoa học về những giới hạn thẩm mỹ mang tính lịch sử của tầng lớp trí thức Nho học đầu thế kỷ XX.
  • Mở ra hướng tiếp cận liên ngành giữa văn học sử, báo chí học và văn hóa học cho các công trình nghiên cứu tiếp theo.

Độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể tham khảo toàn văn tài liệu tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội để phục vụ học tập và phát triển các đề tài liên quan đến lịch sử văn học Việt Nam cận hiện đại.