CHƯƠNG 1 CƠ CẤU VỐN VÀ CÁC TÁC ĐỘNG ĐẾN DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG& NĂNG LƯỢNG 1. Đặc thù kinh doanh và cơ cấu vốn của doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng & năng lượng 1.1 Đặc thù kinh doanh Ngành xây dựng và năng lượng có những đặc điểm về kinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của 1 ngành. Điều này sẽ dẫn đến những đặc thù kinh doanh của ngành và đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro của doanh nghiệp, do vậy, ảnh hưởng đến chi phí vốn, khả năng thanh toán và khả năng huy động vốn. Thứ nhất, các công trình thi công xây dựng CSHT&NL thường có thời gian thi công dài (trên 1 năm) và có quy mô lớn nên yêu cầu nguồn vốn đầu tư lớn.
Kết quả là các DN trong lĩnh vực này thường phải vay nợ từ bên ngoài, chủ yếu là từ ngân hàng. Vì vậy, khi ngân hàng nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt tín dụng như qui định về giới hạn tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng thương mại, hay liên tục thay đổi chính sách lãi suất, sẽ ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn và chi phí nợ của các DN thuộc lĩnh vực này. Thứ hai, ngành xây dựng và điện thường có các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm trước khi tiến hành xây dựng. Các DN của ngành có thể tận dụng các nguồn vốn ứng trước của khách hàng, các khoản trả chậm của các nhà cung cấp nguyên vật 1 Võ Văn Nhị, Kế toán doanh nghiệp xây lắp – Kế toán đơn vị chủ đầu tư, 2009.
Điều này giúp doanh nghiệp giảm vốn vay với lãi suất cao, giảm nhu cầu vốn lưu động. Tuy nhiên, công tác xây dựng phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Dưới tác động của điều kiện tự nhiên (như thiên tai, hỏa hoạn) có thể làm chậm tiến độ xây dựng hoặc gây thiệt hại, phá hủy một phần hoặc toàn bộ các hạng mục công trình đã, đang thi công. Do vậy, sẽ ảnh hưởng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và làm gia tăng nhu cầu vốn lưu động cần thiết phục vục cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tác động này thậm chí có thể triệt tiêu lợi thế tận dụng nguồn vốn ứng trước của khách hàng. Thứ ba, công tác nghiệm thu, bàn giao được thực hiện từng phần, việc giải ngân vốn thường chậm, quá trình hoàn tất hồ sơ thi công cũng như thống nhất phê duyệt giữa chủ đầu tư và nhà thầu thường mất rất nhiều thời gian. Sau khi quyết toán, khách hàng thường giữ lại 5% tổng giá trị hợp đồng để bảo hành sản phẩm. Và tùy vào từng công trình mà 5% còn lại sẽ được thanh toán sau 1 – 2 năm.
Đồng thời, các công trình xây dựng thường yêu cầu nguồn vốn lớn. Do vậy, để đảm bảo kế hoạch sản xuất kinh doanh, các DN trong lĩnh vực này thường tiến hành vay nợ. Hệ quả là nợ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn của DN. Tóm lại, những đặc thù của ngành xây dựng và năng lượng sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu vốn của các DN trong ngành.
Như đã phân tích trên, trong cơ cấu vốn của DN, nợ chiếm tỷ lệ cao, chủ yếu là nợ ngân hàng, do vậy các DN trong ngành sẽ gặp khó khăn trong việc huy động vốn khi ngân hàng thương mại thực hiện giới hạn tăng trưởng tín dụng. Đồng thời, việc duy trì hệ số nợ cao có thể gây ra rủi ro mất 7 khả năng thanh toán khi DN không thu hồi được các khoản nợ hoặc khách hàng của DN bị phá sản.2 ơ cấu vốn của doanh nghiệp xây dựng CSHT&NL tại Việt Nam 1.1 Cơ cấu vốn và các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, DN có thể sử dụng một hay nhiều nguồn vốn để tài trợ, có thể dùng vốn ngắn hạn hay vốn dài hạn, có thể dùng nợ hay vốn chủ sở hữu. Đặc điểm và phương thức huy động các nguồn vốn này sẽ là cơ sở để xác định cơ cấu vốn của DN. Cơ cấu vốn là thuật ngữ đề cập đến quan hệ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp.
Giá trị nợ và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp được trình bày trên bảng cân đối kế toán. Dựa vào bảng cân đối kế toán có thể xác định cơ cấu vốn thông qua các chỉ tiêu như tỷ số nợ, tỷ số tự tài trợ, tỷ số đảm bảo nợ, hệ số đòn 2 bẩy tài chính. Tỷ số nợ được xác định bằng cách lấy giá trị Nợ phải trả chia cho giá trị Tổng vốn (D/V). Chỉ tiêu này cho biết trong 1 đồng tổng vốn thì DN sử dụng bao nhiêu đồng nợ.
Thông thường, nếu tỷ số này lớn hơn 0,5 cho biết cơ cấu vốn của DN nghiêng về nợ. Tỷ số đảm bảo nợ được xác định bằng cách lấy giá trị Tổng nguồn vốn chia cho giá trị Vốn chủ sở hữu (V/E). Tỷ số này cho biết tổng vốn của DN gấp bao nhiêu lần so với vốn chủ sở hữu. Khi tỷ số đảm bảo nợ lớn hơn 2 nghĩa là trong cơ 2 Nguyễn Minh Kiều, Tài chính doanh nghiệp, 2006 8 cấu vốn của DN, nợ sử dụng nhiều hơn so với vốn chủ sở hữu, tức cơ cấu vốn nghiêng về nợ.
Hệ số đòn bẩy tài chính được xác định bằng cách lấy giá trị Nợ phải trả chia cho giá trị Vốn chủ sở hữu (D/E). Tỷ số này cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu thì “gánh” bao nhiêu đồng nợ. Nếu hệ số này lớn hơn 1 nghĩa là cơ cấu vốn nghiêng về nợ, khả năng đảm bảo thanh toán nợ thấp và ngược lại. Tỷ số tự tài trợ được xác định bằng cách lấy giá trị Vốn chủ sở hữu chia cho giá trị Tổng vốn (E/V).
Tỷ số tự tài trợ cho biết trong 1 đồng tổng vốn thì có bao nhiêu đồng vốn chủ sở hữu. Thông thường, tỷ số tài trợ lớn hơn 0,5 cho biết trong cơ cấu vốn DN sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu hơn so với nợ. Ngoài ra, trong luận văn tác giả xây dựng thêm bốn chỉ tiêu là Nợ trái phiếu/Nợ dài hạn; Tài sản dài hạn/Vốn cố định; Nợ ngắn hạn/Tổng nợ và Nợ dài hạn/Tổng nợ. Chỉ tiêu Nợ trái phiếu/ Nợ dài hạn cho biết tỷ trọng nợ trái phiếu trong tổng nợ dài hạn của DN cũng như sự quan tâm của DN đến việc huy động vốn qua thị trường trái phiếu.
Chỉ tiêu Tài sản dài hạn/Vốn cố định được sử dụng để phân tích nguồn tài trợ cho hoạt động đầu tư dài hạn của DN. Nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1, điều này có nghĩa toàn bộ tài sản dài hạn của DN được hình thành từ nguồn vốn cố định, ngược lại, DN đang sử dụng thêm nợ ngắn hạn để đầu tư dài hạn do nguồn vốn cố định không đủ. 9 Chỉ tiêu Nợ ngắn hạn/Tổng nợ được và Nợ dài hạn/Tổng nợ cho biết tỷ trọng của các khoản nợ trong tổng nợ của DN. Trong phân tích tài chính, các tỷ số thanh khoản thường được sử dụng để đo lường năng lực của một doanh nghiệp trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi chúng đến hạn.
Hai tỷ số thường được sử dụng là tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh toán nhanh. Tỷ số khả năng thanh toán hiện được xác định bằng cách lấy giá trị tài sản ngắn hạn chia cho giá trị nợ ngắn hạn phải trả. Tỷ số thanh toán hiện hành đo lường mức độ mà các khoản nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi tài sản ngắn hạn. Tỷ số này càng lớn càng an toàn, phản ánh sự chủ động về mặt tài chính của DN.
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh cũng được xác định tương tự như tỷ số khả năng thanh toán hiện hành nhưng không kể giá trị hàng tồn kho vào trong giá trị tài sản ngắn hạn khi tính toán.2 Cơ cấu vốn của doanh nghiệp xây dựng CSHT&NL tại Việt Nam giai đoạn 2006- 2008 Do đặc điểm kinh doanh của từng ngành nghề mà chu kỳ kinh doanh của các DN cũng rất khác nhau, từ đó, cơ cấu vốn cũng rất khác nhau. Các DN thương mại dịch vụ có chu kỳ kinh doanh ngắn nên chủ yếu sẽ sử dụng vốn ngắn hạn, các DN hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp – thủy sản có rủi ro cao nên thường đa dạng hóa các nguồn vốn, các DN công nghiệp hay xây dựng chủ yếu sẽ sử dụng vốn dài hạn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh. tóm tắt cơ cấu vốn và khả năng thanh toán của các DN trong ngành xây dựng, bất động sản và điện của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2008.1: Cơ cấu vốn và khả năng thanh toán của các DN bất động sản, xây dựng, sản xuất và kinh doanh điện tại Việt Nam giai đoạn 2006 -2008 Đơn vị tính: % Nợ phải Vốn chủ Nợ phải Khả năng Khả năng STT Nhóm ngành trả/Tổng sở hữu/ trả/ Vốn thanh thanh nguồn Tổng chủ sở toán hiện toán vốn vốn hữu hành nhanh 1 Bất động sản 62 38 163,1 194 109 2 Xây dựng 71 39 182,1 131 81,33 3 Điện – sản xuất và 48,3 52,7 91,7 496,3 423,7 kinh doanh điện Bình quân ngành 60,43 44,23 145,6 273,8 221,2 xây dựng và điện Nguồn: : http://www.com/ và tính toán của tác giả Bảng 1.1 cho thấy, trong cơ cấu vốn của các DN sản xuất và kinh doanh điện tỷ lệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu là tương đương nhau, mỗi khoản mục chiếm khoảng 50% trong tổng nguồn vốn của DN. Tuy nhiên, các DN xây dựng và bất động sản thì cơ cấu vốn nghiêng về cơ cấu nợ, cụ thể, nợ chiếm từ 60% - 70% trong tổng nguồn vốn.
Nhìn chung, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu của các DN ngành xây dựng và điện lớn hơn 1 và bình quân khoảng 1,456 cho thấy một đồng vốn chủ 1 sở hữu “gánh” khoảng 1,456 đồng nợ. Mặc dù cơ cấu vốn của DN nghiêng về cơ cấu nợ nhưng các DN trong ngành không chịu nhiều rủi ro về khả năng thanh toán. Các tỷ số đo lường khả năng thanh toán nợ của DN đều lớn hơn 1, cho thấy DN có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.2 tóm tắt cơ cấu vốn của 45 DN xây dựng CSHT&NL được chọn để phân tích. Các DN thuộc lĩnh vực sản xuất năng lượng tại Việt Nam chủ yếu là các 3 công ty sản xuất và kinh doanh điện .