phần mở đầu của Luật các định chế tài chính và ngân 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng là nhận tiền gửi trên tài khoản vãng lai, tài khoản tiền gửi, tài khoản tiết kiệm hoặc một tài khoản tƣơng tự khác [18]. Pháp luật Việt Nam quy định hoạt động huy động vốn dƣới hình thức nhận tiền gửi trong nhiều văn bản nhƣng văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Luật các TCTD. Giao dịch nhận tiền gửi không đƣợc định nghĩa trong Luật các TCTD 1997, Luật các TCTD sửa đổi bổ sung năm 2004. Luật này chỉ đề cập đến khái niệm tiền gửi là gì.
Hiện nay Luật các TCTD năm 2010 đã có hiệu lực thay thế các luật cũ đã định nghĩa khái niệm nhận tiền gửi tại khoản 13 Điều 4 nhƣ sau: Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho ngƣời gửi tiền theo thỏa thuận [30, Điều 4]. Trƣớc đây, luật các TCTD 2004 có một phần quy định riêng về huy động vốn của các TCTD gồm nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các TCTD, vay vốn của ngân hàng nhà nƣớc. Nhƣ vậy, so với quy định trƣớc đây, luật các TCTD 2010 đã gộp chung hoạt động nhận tiền gửi và phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu vào thành khái niệm “nhận tiền gửi”. Tóm lại dựa theo quy định của Luật các TCTD năm 2010, khái niệm “giao dịch nhận tiền gửi” đƣợc hiểu là ngân hàng thực hiện hoạt động huy động vốn thông qua việc nhận tiền của các tổ chức, cá nhân vào NHTM dƣới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi cho ngƣời gửi tiền theo quy định pháp luật.
Đặc điểm Hoạt động huy động vốn dƣới hình thức nhận tiền gửi của NHTM có những đặc điểm cơ bản sau: 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Về chủ thể: quan hệ tiền gửi gồm hai chủ thể đặc trƣng là NHTM và ngƣời gửi tiền. NHTM đƣợc pháp luật cho phép thực hiện nghiệp vụ nhận tiền gửi của công chúng. Ngƣời gửi tiền là cá nhân, tổ chức trong xã hội có nguồn tiền nhàn rỗi chƣa dùng đến và có nhu cầu gửi tiền để đầu tƣ kiếm lời. - Về mục đích giao dịch: cả hai chủ thể đều hƣớng tới mục đích nhất định.
NHTM nhận tiền gửi để huy động vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình nhƣ việc cấp tín dụng hoặc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng cho khách hàng. Với ngƣời gửi tiền, mục đích gửi tiền để đảm bảo an toàn cho tiền vốn (tiền gửi khi gửi vào NHTM sẽ đƣợc trông giữ, bảo quản hộ) vừa để đồng vốn sinh lời khi chƣa có nhu cầu sử dụng hoặc để hƣởng những tiện ích do NHTM cung ứng nhƣ dịch vụ thanh toán, chuyển tiền… Ngƣời gửi tiền có thể hƣớng tới một hoặc tất cả các mục đích trên, và mục đích của họ thể hiện rõ nhất thông qua hình thức gửi tiền hay loại tiền gửi mà họ lựa chọn. - Về thủ tục xác lập và thực hiện giao dịch: huy động tiền gửi tiết kiệm thƣờng đƣợc thực hiện với thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện, ít tốn kém cho khách hàng gửi tiền. Giao dịch nhận tiền gửi của NHTM đƣợc hiểu là cam kết song phƣơng giữa NHTM với khách hàng gửi tiền, thông qua việc giao kết hợp đồng tài khoản tiền gửi.
Giao dịch nhận tiền gửi đã đƣợc nhìn nhận là hành vi vay tiền của NHTM với cam kết đảm bảo an toàn cho số tiền gửi đó cùng với nghĩa vụ hoàn trả cả lãi và gốc cho ngƣời gửi tiền. Việc ngân hàng giữ các khoản tiền gửi này cho khách hàng không đơn thuần là một nghiệp vụ giữ hộ tài sản hay quản lý tài sản cho khách hàng để nhận thù lao (nhƣ giai đoạn khởi thuỷ của hoạt động ngân hàng) mà quan trọng hơn nó là nghiệp vụ huy động vốn - nghiệp vụ đi vay của NHTM từ nền kinh tế. - Huy động vốn dƣới hình thức nhận tiền gửi là hình thức huy động vốn quan trọng nhất của các NHTM. Tùy thuộc vào mục đích mà các tổ chức, 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cá nhân có thể gửi tiền dƣới các hình thức: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác.
Căn cứ vào các hình thức gửi tiền mà các NHTM phải hoàn trả đủ tiền gốc, lãi cho ngƣời gửi tiền theo thỏa thuận. Tiền gửi tiết kiệm có nhiều loại nhƣ tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn… và có lãi suất đa dạng, phù hợp với thi trƣờng nhằm đáp ứng nhu cầu gửi tiền của ngƣời dân. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn đƣợc gửi và rút ra bất kỳ lúc nào, ngân hàng sẽ trả lãi theo số dƣ bình quân hàng tháng nhân với lãi suất. Lãi đƣợc nhập vào gốc hàng tháng.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn đƣợc rút ra khi đến hạn (cả gốc lẫn lãi). Nếu đến hạn, ngƣời gửi không có nhu cầu sử dụng thì ngân hàng tự động nhập lãi vào gốc và tiếp tục đƣợc hƣởng lãi kỳ tiếp theo. Khách hàng có nhu cầu rút ra trƣớc hạn có thể đƣợc hƣởng lãi suất không kỳ hạn. Ngƣời gửi tiền tiết kiệm không đƣợc sử dụng séc và các dịch vụ ngân hàng từ số tiền trên tài khoản này.
Tiền gửi khác: Ngoài tiền gửi trên, các NHTM còn có các loại tiền gửi khác nhƣ: Tiền gửi của kho bạc Nhà nƣớc; Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác; Tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội khác. Bản chất của huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi Nhìn nhận trên góc độ pháp lý và kinh tế có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất của hoạt động huy động vốn dƣới hình thức nhận tiền gửi. tựu chung lại bản chất của hình thức nhận tiền gửi bao gồm các điểm nhƣ sau: Thứ nhất, huy động vốn dƣới hình thức nhận tiền gửi là hoạt động đi vay của ngân hàng từ khách hàng. Quan hệ thiết lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tự do thỏa thuận giữa hai bên.
Nhận tiền gửi là một hợp đồng cho vay chứ không phải là hợp đồng gửi giữ tài sản nhƣ sơ khai của lịch sử ngân hàng. Với bản chất là hợp đồng cho vay, bên cho vay là ngƣời gửi tiền có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu số tiền gửi cho ngân hàng nhận tiền 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gửi để từ đó xác lập quyền chủ nợ của mình đối với ngân hàng (quyền yêu cầu ngân hàng hoàn trả cho mình cả vốn gốc và lãi tiền gửi). Nhƣ vậy có thể nói trong suốt thời gian gửi tiền ở ngân hàng thì quyền sở hữu số tiền gửi thuộc về ngân hàng chứ không thuộc về bên gửi tiền. Chính vì ngân hàng có tƣ cách là chủ sở hữu số tiền gửi của khách hàng nên có toàn quyền quyết định việc sử dụng số tiền đó để cho tổ chức, cá nhân vay lại theo ý mình mà không cần phải hỏi ý kiến của khách hàng.
Ngƣợc lại, vì không còn là chủ sở hữu của số tiền gửi trong thời gian gửi tiền nên ngƣời gửi tiền không thể định đoạt số tiền đó theo ý mình, mà chỉ có thể yêu cầu ngân hàng hoàn trả tiền gửi cho mình cả gốc và lãi theo thỏa thuận với tƣ cách là chủ nợ của ngân hàng. Thứ hai, chủ thể tham gia quan hệ tiền gửi bao gồm bên nhận tiền gửi (bên vay) là tổ chức tín dụng, với tƣ cách là những chủ thể đƣợc phép kinh doanh ngân hàng theo giấy phép của Nhà nƣớc. Còn bên gửi tiền (bên cho vay) là tổ chức, cá nhân có tiền nhàn rỗi và có nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng để bảo đảm an toàn tài sản và hƣởng lãi tiền gửi. Thứ ba, hình thức của quan hệ tiền gửi là hợp đồng tiền gửi (hợp đồng vay tiền) giữa NHTM với khách hàng.
Thẻ tiết kiệm hay sổ tiết kiệm là bằng chứng pháp lý ghi nhận việc cho vay giữa ngƣời gửi tiền với ngân hàng nhận tiền gửi và ghi nhận đầy đủ quyền, nghĩa vụ pháp lý của các bên đối với nhau trong hợp đồng tiền gửi. Trên thực tế, do thẻ tiết kiệm hay sổ tiết kiệm thƣờng đƣợc quan niệm nhƣ là một loại giấy tờ có giá nên khách hàng gửi tiền với tƣ cách là ngƣời sở hữu giấy tờ có giá có thể đem chính thẻ tiết kiệm hay sổ tiết kiệm đó để đảm bảo cho các nghĩa vụ tài sản của mình hoặc của ngƣời khác đối với bên có quyền. Xét về bản chất, thẻ tiết kiệm hay sổ tiết kiệm là bằng chứng pháp lý xác nhận quyền chủ nợ của ngƣời gửi tiền (ngƣời sở hữu thẻ tiết kiệm) đối với ngân hàng nhận tiền gửi (giống nhƣ ngƣời sở hữu trái phiếu hay các 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chứng khoán nợ khác), chứ không phải là “chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của chủ sở hữu tiền gửi hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi về khoản tiền đã gửi tại tổ chức nhận tiền gửi” – theo nhƣ cách định nghĩa của nhà làm luật Việt Nam hiện nay [37]. Nguyên tắc của huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có quy định: Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho ngƣời gửi tiền theo thỏa thuận [30, Điều 4, khoản 13].
Nhƣ vậy, trên phƣơng diện pháp lý thì “quan hệ tiền gửi” là quan hệ phát sinh giữa một bên là tổ chức, cá nhân gửi tiền với bên kia là tổ chức đƣợc phép nhận tiền gửi. Xét về bản chất, quan hệ tiền gửi là một quan hệ hợp đồng vay nợ, bởi: - Quan hệ này đƣợc thiết lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tự do thỏa thuận giữa các chủ thể; - Có sự chuyển giao một số tiền nhất định từ ngƣời gửi tiền sang tổ chức nhận tiền gửi để tổ chức này quản lý, sử dụng.