CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về Ngân hàng Thương mại (NHTM) 1. Khái niệm NHTM Ngày nay, ngân hàng không còn độc quyền trong việc kinh doanh dịch vụ tiền tệ. Bên cạnh các ngân hàng, kinh doanh và làm dịch vụ cho thị trường này còn có những tổ chức tài chính kinh doanh những loại hình tương tự như công ty bảo hiểm các loại (tài sản, con người, trách nhiệm nhân sự…), các công ty tài chính, các hiệp hội tiết kiệm cho vay, các quỹ hưu trí, các quỹ tín dụng, hợp tác xã tín dụng… Tuy nhiên đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới thì NHTM vẫn là tổ chức tài chính lớn nhất, có vai trò quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh tiền tệ.
Trên thế giới NHTM được hình thành từ sớm, hai NHTM đầu tiên đó là Banca di Baralone năm 1401 và Banca di Valencia năm 1409 cả hai ngân hàng đều thành lập ở Tây Ban Nha. Ở Mỹ NHTM được thành lập đầu tiên là Ngân hàng Bắc Mỹ vào năm 1782 sau khi được cấp điều lệ ngân hàng chính thức đầu tiên bởi Quốc hội Lục địa để hỗ trợ tài chính cho cuộc chiến giành độc lập. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu, nhà kinh tế học vẫn chưa có sự thống nhất với nhau về định nghĩa NHTM bởi do sự khác biệt về luật pháp, chính sách, số lượng các nghiệp vụ, bối cảnh kinh tế, xã hội… Ở mỗi quốc gia, luật pháp quy định NHTM là khác nhau, Chính phủ thường dựa trên mục đích và tính chất hoạt động của ngân hàng trên thị trường tiền tệ để đưa ra cách hiểu về NHTM. Ở Mỹ, theo Luật ngân hàng của Mỹ “bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng”.
Ở Pháp, theo Đạo luật ngân hàng của Pháp năm 1941 “những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức 2 khác, các số tiền mà họ dùng cho chính họ và vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay tài chính thì được coi là ngân hàng”. Ở Ấn Độ, theo Luật ngân hàng của Ấn độ năm 1950, bổ sung năm 1959 có nêu: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”. Ở Đan Mạch, khái niệm NHTM của Luật ngân hàng năm 1930 căn cứ vào sự kết hợp với đối tượng hoạt động: “Những ngân hàng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, bảo hiểm…” Ở Việt Nam, theo pháp lệnh “Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính” ban hành ngày 23/05/1990 ở điều 1, khoản 1: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Vai trò của NHTM 1.
NHTM có vai trò điều tiết nguồn vốn trong nền kinh tế: Trong quá trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng, các cá nhân, doanh nghiệp thừa vốn nhàn rỗi tạm thời muốn đảm bảo tiền số tiền được an toàn, sử dụng có hiệu quả; trong khi đó các cá nhân, doanh nghiệp đang thiếu vốn muốn vay một số tiền để phục vụ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ngân hàng là kênh lựa chọn tốt nhất để thực hiện việc này. Từ nguồn vốn mà ngân hàng huy động, NHTM sẽ tập trung lại và phân phối lại dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Nhờ có NHTM mà các cá nhân, doanh nghiệp có điều kiện mở rộng quy mô, cải tiến máy móc, công nghệ, tăng năng suất lao động, kích thích và nâng cao hoạt động kinh tế và chất lượng sản phẩm xã hội.
NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường: Vốn chính là yếu tố đầu vào quan trọng nhất và nền tảng cơ bản nhất cho mọi hoạt động kinh doanh. Vốn luôn là mối quan tâm hàng đầu, giúp doanh nghiệp tiếp cận với thị trường và thu lợi nhuận. Vốn tự có của doanh nghiệp rất nhỏ, muốn gia tăng sản 3 xuất, đầu tư công nghệ, máy móc, thiết bị doanh nghiệp cần phải khai thác từ những nguồn vốn tài trợ khác. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần lập một ngân quỹ để đầu tư trong việc đào tạo, tập huấn, nâng cao trình độ đội ngũ nhân viên phù hợp với sự phát triển của khoa học – kỹ thuật – công nghệ.
Nguồn vốn tín dụng của NHTM sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết được vấn đề đó, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, mang lại lợi nhuận cho công ty, thúc đẩy hoạt động nền kinh tế thị trường. NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, hoạt động của NHTM nếu có hiệu quả sẽ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động của NHTM, NHNN thực hiện chính sách tiền tệ phục vụ các mục tiêu ngắn hạn hoặc dài hạn của Chính phủ, điều hòa khối lượng tiền tệ trong lưu thông bằng các công cụ như: ấn định hạn mức tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở để tác động tới lượng tiền cung ứng trong lưu thông. Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường do vậy NHTM là cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.
Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống từ đó góp phần mở rộng hay thu hẹp lượng tiền trong lưu thông. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế: Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới phát triển theo xu hướng hội nhập kinh tế trong khu vực và thế giới, mở cửa giao lưu, hợp tác các mối quan hệ trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, … giúp mỗi quốc gia phát huy được lợi thế, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế trên trường quốc tế. NHTM chính là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế. Thông qua các nghiệp vụ của NHTM như nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, ủy thác đầu tư và các nghiệp vụ khác.
NHTM giúp cho việc thanh toán, trao đổi mua bán xuất nhập khẩu được diễn ra nhanh chóng, thuận tiện, an toàn, đồng thời 4 điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp, bắt kịp với sự vận động của nền tài chính quốc tế. Một số hoạt động cơ bản của NHTM 1. Nghiệp vụ nguồn vốn của NHTM Đây là hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của NHTM. Thông qua hoạt động này NHTM thực hiện chức năng trung gian tín dụng, đem lại nguồn vốn để ngân hàng thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ cho khách hàng.
Các nghiệp vụ cơ bản trong hoạt động này phản ánh nguồn vốn của một ngân hàng, bao gồm: Vốn tự có gồm vốn điều l và các quỹ dự trữ: Nguồn hình thành: Vốn điều lệ: mức vốn được hình thành khi ngân hàng mới thành lập theo quy định của pháp luật. Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: nguồn vốn tự có của ngân hàng không ngừng tăng lên theo thời gian nhờ nguồn vốn bổ sung này. Nguồn vốn bổ sung có được từ lợi nhuận kinh doanh, vốn góp thêm của chủ sở hữu, từ phát hành thêm cổ phiếu, … Tùy thuộc vào tính chất sỡ hữu từng ngân hàng mà vốn điều lệ được hình thành từ nhũng nguồn gốc khác nhau. Ngân hàng quốc doanh: Vốn điều lệ được hình thành do 100% vốn Ngân sách Nhà nước.
Ngân hàng cổ phần: Vốn điều lệ được hình thành từ vốn góp của các cổ đông, trong đó các doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức tín dụng (TCTD) và các tổ chức khác, cá nhân góp vốn theo quy định của NHNN, thông qua việc mua các cổ phiếu trên sàn chứng khoán. Ngân hàng liên doanh: Vốn điều lệ được hình thành từ vốn góp của các bên liên doanh, hợp tác. 5 Ngân hàng nước ngoài: Vốn diều lệ được hình thành từ 100% vốn nước ngoài. Ngân hàng tư nhân: Vốn điều lệ được hình thành từ vốn của chính chủ ngân hàng đó.
Các quỹ dự trữ của ngân hàng: Trong quá trình hoạt động của ngân hàng bắt buộc các quỹ phải trích lập. Các quỹ này được trích lập theo tỷ lệ quy định trên số lợi nhận ròng của ngân hàng. Mỗi quỹ có một mục đích sử dụng riêng, gồm: Quỹ bổ sung vốn điều lệ: được trích từ lợi nhuận ròng hằng năm để bổ sung vốn điều lệ của NHTM. Khi có nhu cầu tăng quy mô vốn điều lệ, NHTM có thể sử dụng số dư quỹ bổ sung vốn điều lệ chuyển sang làm tăng số dư của vốn điều lệ.
Quỹ dự phòng rủi ro: dùng để dự phòng bù đắp rủi ro, thua lỗ trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm bảo vệ vốn điều lệ. Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ: Đây là quỹ hình thành nên các tài sản của ngân hàng. Quỹ này vụ được sử dụng vào việc đầu tư mở rộng và phát triển mạng lưới hoạt động, đổi mới trang thiết bị và điều kiện làm việc của ngân hàng. Quỹ khen thưởng phúc lợi: được trích từ lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của ngân hàng để dùng cho công tác khen thưởng, khuyến khích lợi ích vật chất, phục vụ nhu cầu phúc lợi công cộng, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động.
Lợi nhuận không chia: là phân thu nhập sau thuế được ngân hàng giữ lại sau khi đã thực hiện trích lập các quỹ theo quy định của Pháp luật. Vốn huy động: Vốn huy động chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng nguồn và ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động kinh doanh của NHTM.