CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 1.1 Nghiên cứu nước ngoài. César Calderón and Luis Servén (2004), The effects of Infrastructure Development on Growth and Income Distribution. Thông qua việc nghiên cứu thực tế phát triển CSHT cùa 121 quốc gia trên thế giới giai đoạn 1960-2000, các tác giả đưa ra hai kết luận quan trọng: Một là, trình độ phát triển CSHT có tác dụng tích cực đến tăng trưởng kinh tế; Hai là, trình độ phát triển CSHT càng cao thì mức độ bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội càng giảm. Từ hai kết luận này, tác giả của công trình nghiên cứu đã rút ra kết luận chung là: trình độ phát triển CSHT có tác động mạnh đến công tác xoá đói giảm nghèo.
Xuất phát từ việc đánh giá hiệu quả của việc phát triển hệ thống CSHT, các tác giả cho rằng cần thiết phải xúc tiến công tác huy động vốn để trang trải cho các chi phí phát triển hệ thống CSHT của các quốc gia. luan an 8 Wilson Waslke (2001) đã bàn về chính sách vốn đầu tư cơ sở hạ tầng tại Kenya qua nghiên cứu Road infrastructure policies in Kenya: Historical trends and current challenges. Tác giả đã giới thiệu về khung lý thuyết, chính sách về cơ sở hạ tầng đường bộ theo các giai đoạn phát triển đường bộ, cơ cấu quản lý và cung cấp đường bộ cũng như các mục tiêu cơ bản và chiến lược cho chính sách của Kenya. Từ đây tác giả phân tích xu hướng và tác động của các chính sách đường bộ đó.
Tác giả đồng thời đánh giá, phê bình về khung chính sách cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ của Kenya trong thời kỳ hậu độc lập. Thông qua những nội dung nghiên cứu trên, tác giả đã chỉ ra rằng sự tham gia của khu vực tư nhân trong tất cả các khía cạnh của cung cấp dịch vụ đường bộ tại Kenya đều có xu hướng gia tăng. Mạng lưới giao thông đường bộ Kenya được mở rộng về quy mô khá tốt, tuy nhiên điều này cũng đồng nghĩa rằng việc bảo trì, sửa chữa và phục hồi (MR&R) sẽ không được cung cấp đầy đủ, phân mảnh khuôn khổ thể chế quản lý. Từ đây nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng trong phát triển cơ sở giao thông đường bộ, Kenya chưa hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và quy định cho sự tham gia của khu vực tư nhân, không có chiến ược tư nhân hóa.
Antonio Postigo (2008) đã nghiên cứu Financing road infrastructure in China and India: Current trends and future options. Tác giả nhấn mạnh rằng cả Trung Quốc và Ấn Độ đều xác định cơ sở hạ tầng đường bộ là yếu tố đầu vào quan trọng trong chiến lược tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo của quốc gia. Hai quốc gia đã đưa ra những lựa chọn tài chính rất khác nhau trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ của mình. Một bên, Trung Quốc sử dụng huy động vốn chủ yếu từ tín dụng của các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước.
Trong giai đoạn nghiên cứu, tác giả chỉ ra lượng vốn huy động từ tín dụng cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của Trung Quốc chiếm tới 44% (trong đó vay nội địa là 43%). Các khoản vay nội địa này đến từ ngân hàng phát triển Trung Quốc và các ngân hàng thương mại nhà nước. Một lượng vốn lớn khác được sử dụng cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của Trung Quốc là phí và lệ phí (chiếm tới 45%), ví dụ như: phí mua xe, phí và lệ phí địa phương khác, phí bảo trì đường bộ, phí vận tải và hành khách, phí cầu đường,… Mặt khác, Ấn Độ lựa luan an 9 chọn phụ thuộc vào các tổ chức quốc tế và thuế nhiên liệu. Phí và lệ phí dùng cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của Ấn Độ giao động từ 40-50%.
Vốn này đến từ: phí nhiên liệu (chiếm tỷ trọng từ 30% đến 40% trong quỹ đường bộ trung ương); các lệ phí và thuế khác liên quan tới đường bộ. Ấn Độ có mức độ sử dụng vốn tín dụng cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đường bộ cũng tương đối lớn (40-50%). Tuy nhiên khác với Trung Quốc, nếu Trung Quốc chủ yếu huy đông tín dụng trong nước thì Ấn Độ lại tập trung huy động vốn tín dụng từ nước ngoài. Khoản vay nước ngoài của Ấn Độ cho cơ sở hạ tầng đường bộ lên tới 30-40%.
Khoản vay này do ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) hoặc ngân hàng thế giới (WB) dành cho chính phủ Ấn Độ và các cơ quan phát triển đường bộ trung ương/quốc gia. Đáng chú ý rằng cả hai quốc gia sử dụng các cách thức huy động vốn khác nhau, nhưng đều dẫn tới kết quả chung đó là không đáp ứng đủ vốn cho nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng trong tương lai của mình. Lượng vốn huy động từ đầu tư tư nhân còn rất khiêm tốn tại hai quốc gia này, khi ở Trung Quốc là 7% còn tại Ấn Độ là 8-10%. Nói cách khác, Trung Quốc và Ấn Độ đều phải tìm ra các cơ chế, giải pháp để huy động vốn tư nhân nhằm mở rộng tài chính của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Klaus Maurer (2017) đã đánh giá thực trạng và tiềm năng sử dụng của ba nguồn tài chính cơ sở hạ tầng của Châu Phi, gồm: các nhà đầu tư tổ chức toàn cầu, các quỹ hưu trí, và kiều hối qua nghiên cứu Mobilization of long-term savings for infrastructure financing in Africa. Trước tiên, các nhà đầu tư tổ chức thế giới như các quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm có quy mô cần thiết để thực hiện hóa “ hàng tỷ đến nghìn tỷ”. Nguồn tài chính thứ hai là các quỹ hưu trí nội địa đang có xu hướng ngày càng phát triển với tốc độ mạnh tại nhiều quốc gia ở Châu Phi. Nguồn tài chính cuối cùng được sử dụng cho đầu tư cơ sở hạ tầng tại Châu Phi là kiều hối từ nước ngoài chuyển về.
Các quốc gia Châu Phi đồng thời có xu hướng đẩy mạnh các hình thức PPP và đồng đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Hỗ trợ phát triển thị trường vốn nội địa cũng là giải pháp các nước Châu Phi tìm tới để đáp ứng nhu cầu tài chính đầu tư cho cơ sở hạ tầng trong quốc gia mình. Định hướng lại ODA và DFI theo hướng đòn bẩy tài chính và vai luan an 10 trò xúc tác cho phát triển thị trường sẽ tạo điều kiện thu hút các vốn đầu tư từ khu vực tư nhân- vốn không thể thiếu trong phát triển cơ sở hạ tầng của các nước- cũng như tận dụng được các vốn ưu đãi khan hiếm. Patricia Clarke Annez (2006) nghiên cứu về sự tham gia của khu vực tư nhân trong đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị qua Urban infrastructure finance from private operators: What have we learned from recent experience?.
Từ giữa giai đoạn năm 1990 sự tham gia của khu vực tư nhân trong cơ sở hạ tầng (PPI) đã được các nước công nhận là một trong những thành phần quan trọng trong huy động vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Sự chấp nhận này đã được thử nghiệm tại các nước phát triển trước, đại diện như Vương quốc Anh trong cơ sở hạ tầng viễn thông và năng lượng. Sự thay đổi trong cơ cấu vốn huy động cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại các nước đó đã gia tăng sự cạnh tranh trong một số phân khúc nhất định, làm gia tăng hiệu quả sử dụng vốn cũng như chất lượng của các sản phẩm cơ sở hạ tầng cung ứng. Mặt khác, tại các nước đang phát triển, áp vốn cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng khan hiếm, làm gia tăng trách nhiệm của nhà nước trong cung ứng cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu của quốc gia.
Từ đó, trách nhiệm và vai trò của nhà đầu tư tư nhân trong việc tham gia đầu tư vào cơ sở hạ tầng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Nghiên cứu cho thấy các nước Đông Á (như Thái Lan, Trung Quốc và Philippines) sử dụng PPI để mở rộng và cải thiện cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh đô thị hóa và góp phần tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Tác giả nghiên cứu về kinh nghiệm của một số nước và nhận thấy rằng PPI tiềm năng hơn so với huy động các tài chính mới khi tăng tính hiệu quả đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. EIB Paper (2010) tổng hợp nhiều bài viết của các tác giả về vốn cho cơ sở hạ tầng, với tên chung là Public and private financing of infrastructure- Policy challenges in mobilizing finance.
Các quốc gia Châu Âu đối mặt với tình trạng một bên là hợp nhất tài khóa, một bên là đổi mới cơ sở hạ tầng. Từ đây, các quốc gia này nhằm gia tăng đầu tư cho đổi mới cơ sở hạ tầng nhưng không gia tăng gánh nặng trong quá trình hợp nhất tài khóa đã lựa chọn một giải pháp là tìm vốn bổ sung từ đầu tư tư nhân. luan an 11 Thêm vào đó, chính phủ các nước vẫn duy trì vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch, vận hành cũng như cấp vốn cho cơ sở hạ tầng, do vậy hội nghị EIB (2010) đã tập trung vào vấn đề huy động tài chính. Hội nghị đồng thời làm rõ vai trò của chính phủ và khu vực tư nhân, phát triển khái niệm về căn cứ quy định tài sản (RABs) trong các mô hình tiện ích tư nhân hóa.
Bên cạnh đó, cấu trúc tài chính đầu tư cơ sở hạ tầng cũng có thể được xác định do nợ đóng vai trò rất lớn đối với RAB. Có thể nói, hội nghị EIB (2010) đi sâu vào 4 chủ đề, gồm: (1) cơ sở hạ tầng và tài chính cho cơ sở hạ tầng: vai trò của chính phủ và khu vực tư nhân trên thế giới hiện nay; (2) kế hoạch cơ sở hạ tầng quốc gia của Vương Quốc Anh năm 2010; (3) Tài chính xanh và cơ sở hạ tầng thích ứng với khí hậu tại các nước đang phát triển- thách thức và cơ hội; (4) tổng quan tài chính cơ sở hạ tầng của các nước đang phát triển. ADBI Working Paper Series (2010), “Financing Asia’s Infrastructure: Modes of Development and Integration of Asian Financial Markets”, Biswa Nath Bhattacharyay, No. Nội dung nghiên cứu các vấn đề và thách thức trong việc sử dụng nguồn vốn phát triển CSHT.
Đồng thời, cũng đưa ra các khuyến nghị liên quan đến việc sử dụng các giải pháp tài chính thông qua việc lựa chọn và làm thế nào để các nước có thể tiếp cận với thị trường tài chính châu Á nhằm thực hiện các dự án CSHT trong khu vực.