CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tồng quan về giao thông Việt Nam Sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì nền kinh tế của Việt Nam đã có nhiều điểm mới, chất lượng cuộc sống của người dân được cải thiện từng bước. Tuy mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt được là khá cao nhưng đi liền với nó là vấn đề về tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, đặc biệt là giao thông đường bộ, số vụ giao thông không ngừng tăng cả về quy mô và số lượng. Các nguyên nhân chủ yếu được đưa ra thì có rất nhiều: Do sự lấn chiếm hành lang an toàn giao thông, sự quy hoạch đô thị chưa hợp lý, sự gia tăng quá nhanh của các phương tiện giao thông cá nhân và ý thức của người tham gia giao thông quá kém và chưa được cải thiện nhiều trong những năm gần đây.
Bên cạnh đó cũng phải kể đến chất lượng đường xá cơ sở hạn tầng giao thông của chúng ta còn kém, các con đường còn quá nhỏ hẹp chưa đáp ứng kịp nhu cầu sử dụng, nhiều nút thắt cổ chai, các khúc cua gấp 90 độ, trong khi đó trên một đoạn đường có quá nhiều các biển báo cấm và biển báo hiệu, vỉa hè thì bị lấn chiếm làm nơi kinh doanh bán hàng, để xe ô tô dẫn tới tình trạng người tham gia giao thông bị khuất tầm nhìn, nhiều đoạn đường xuống cấp quá nhanh có nguy cơ tiềm ẩn tai nạn giao thông. Theo thống kê của Cục CSGT đường bộ- đường sắt và Uỷ ban ATGT Quốc gia, trong 3 tháng đầu năm 2017, cả nước đã xảy ra tới 4.812 vụ TNGT làm 2.114 người chết và 3.835 người bị thương. Điều này dẫn đến hậu quả về kinh tế và gánh nặng cho xã hội là rất lớn. Theo số liệu thống kê mới nhất, có tới 50% số người tham gia giao thông không dùng đèn báo khi chuyển hướng, 85% không dùng còi đúng quy định, 70% không dùng phanh tay, 90% không sử dụng đúng đèn chiếu sáng xa, gần và 72% không đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên mô tô trên những tuyến đường bắt buộc.
Ngoài ra, tình trạng vượt đèn đỏ, uống rượu bia say, chở quá tải, quá tốc độ trong thời gian qua vẫn luôn ở mức báo động và rất khó kiểm soát. Luan van 2 Hình 1: Tình trạng giao thông ở Việt Nam [13]. Nhiều quốc lộ đang bị nhà dân, các hàng quán và các công trình xâm lấn hành lang an toàn, các điểm đầu nối trái phép hệ quả của việc người dân tự ý mở đường dân sinh hoặc nhà máy khu công nghiệp. Đặc biệt hành lang giao thông quốc lộ 5 đi qua tỉnh Hưng Yên đã trở thành “phố” với nhà dân và các công trình bám hai bên đường.
Quốc lộ 1 với chiều dài 2.300 km đã có 194 khu công nghiệp, 2.101 khu dân cư, 1008 cây xăng và 2.363 điểm đấu nối khác.Qua khảo sát cụ thể 272,5 km trên quốc lộ 1 ở cả ba miền cho thấy: Về chiều rộng hành lang, chỉ 24% đủ theo quy định (15 m), phần còn lại có nhiều công trình, nhà ở nằm trên hành lang, có nhiều nơi bám sát mặt đường. Về đường ngang, bình quân 3,3 đường ngang/km, nghĩa là 300 m có một đường ngang [8]. Hệ thống phương tiện tham gia giao thông cơ giới đường bộ tại Việt Nam Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ở Việt Nam chủ yếu gồm xe ô tô, xe mô tô và xe gắn máy trong những năm gần đây đã tăng một cách đáng kể về cả số lượng cũng như khối lượng vận chuyển hàng hóa trên toàn quốc, đặc biệt tại các đô thị và các khu vực kinh tế phát triển. Việc phát triển nhanh chóng về số lượng các loại phương tiện cơ giới ngoài các tác dụng tích cực về mặt kinh tế, xã hội nhưng nếu không được kiểm soát tốt sẽ Luan van 3 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, gây ô nhiễm và phát thải khí nhà kính, tiêu tốn nhiên liệu hóa thạch, gây ùn tắc, mất trật tự an toàn và đặc biệt là tai nạn giao thông.
Cùng với quá trình công nghiệp hóa đất nước là quá trình cơ giới hóa các phương tiện giao thông đường bộ, đầu tiên là mô tô, xe gắn máy và hiện nay các loại ô tô cá nhân bắt đầu trở nên phổ biến. Tính đến 31/3/2017, cả nước đã đăng ký 3.557 mô tô, xe máy (chiếm 93,9%). Bình quân mỗi năm số xe ô tô tăng 10% và mô tô, xe máy tăng 12% so với năm trước. ❖ Xe mô tô, xe gắn máy Hình 2: Xe mô tô [20].
Hiện nay mô tô, xe máy mới chủ yếu là xe sản xuất, lắp ráp trong nước với 3.023 chiếc (chiếm 99 %) so với 20.713 chiếc được nhập khẩu (chiếm 1%) năm 2016. Xe nhập khẩu chủ yếu là xe có giá trị lớn và xe phục vụ nhu cầu giải trí từ Mỹ, Ý, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc. Theo dự báo, số lượng xe máy sẽ còn tăng trong vòng 5 năm tới.Hầu như toàn bộ mô tô, xe máy hiện nay được lắp động cơ 4 kỳ, dung tích xi-lanh không lớn, phổ biến trong khoảng 80-125cc nên phát thải các chất ô nhiễm chủ yếu là CO, HC, phát thải rất ít PM và tiêu thụ nhiên liệu không lớn. Nhưng xe tay ga đang trở nên phổ biến nên tiêu thụ nhiên liệu ở mức 2-3 lít/100 km.
Vì vậy mặc dù số lượng đông nhưng mô tô, xe Luan van 4 máy chỉ tiêu thụ khoảng 60 % xăng dùng cho các xe cơ giới sử dụng xăng nhưng lại thải ra đến 80-90 % lượng phát thải CO và HC. Với ưu điểm như cơ động, linh hoạt, phù hợp điều kiện kinh tế của đa phần người dân, xe mô tô, xe gắn máy đang là phương tiện di chuyển gần như không thể thiếu trong mỗi gia đình, nhưng lượng xe máy tăng nhanh sẽ gây ra nhiều hệ lụy rất đáng lo ngại. Các con số thống kê cho thấy, 85% dân số Việt Nam đang sử dụng xe máy làm phương tiện đi lại hàng ngày và để mưu sinh với những canh cánh về nỗi lo tai nạn, tắc đường.Cũng theo các con số thống kê tại Việt Nam, tai nạn giao thông đối với người đi xe máy chiếm hơn 70% số vụ tai nạn giao thông đường bộ. Dự báo đến năm 2020 xe mô tô, xe gắn máy vẫn là loại phương tiện giao thông đường bộ quan trọng.
❖ Xe ô tô Hình 3: Một số loại xe ô tô [18]. Kinh tế ngày càng phát triển, mức thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng kéo theo đó là nhu cầu sử dụng các loại phương tiện với chất lượng tốt và ngày càng hiện đại hơn. Những năm gần đây, ô tô con cá nhân đã bắt đầu phát triển đặc biệt tại các thành phố lớn khi thu nhập bình quân đầu người đạt gần 2.000 USD/người/năm. Dự kiến trong 5-10 năm tới xe ô tô con cá nhân sẽ trở nên phổ biến tại các thành phố lớn ở Việt Nam.
Luan van 5 Theo số liệu kiểm định, đến năm 2016 cả nước có 3.302 xe đang lưu hành. Trong đó ô tô con (từ 09 chỗ ngồi chở xuống) có 1.207 chiếc (chiếm 6,12 %), ô tô tải có 1. Số lượng xe đăng ký biển số có thể lớn hơn do nhiều xe hết niên hạn sử dụng và tự giải bản chưa được thống kê.9% Ô tô khách 49.1% Các loại xe khác Hình 4: Biểu đồ số lượng ô tô các loại đang lưu hành Số lượng ô tô tại 5 thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và Tp. Hồ Chí Minh) gồm 885.114 chiếc chiếm khoảng 48,17% tổng số xe cả nước.Nhiên liệu sử dụng chủ yếu là xăng và điêzen.
Các xe thương mại phần lớn sử dụng điêzen, chỉ một số ít loại xe tải cỡ nhỏ (tải trọng dưới 2 tấn) còn sử dụng xăng. Trong khi đó, ô tô con lại chủ yếu chạy bằng xăng, số lượng ô tô con chạy bằng điêzen còn hạn chế. Nhiên liệu thay thế là LPG mới được sử dụng trong phạm vi hẹp. Nhiên liệu CNG còn đang trong giai đoạn thử nghiệm.
Nhiên liệu sinh học hiện nay đã bắt đầu được áp dụng tại 08 địa phương: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Quảng Nam và Bà Rịa - Vũng Tàu (xăng E5). Tùy theo chính sách thuế mà số lượng ô tô được sản xuất, lắp ráp so với nhập khẩu nhiều hoặc ít.398 ô tô được sản xuất, lắp ráp trong nước. Trong khi đó, số lượng ô tô nhập khẩu năm 2014 là 76.756 xe mới chưa qua sử dụng và 7.024 xe đã qua sử dụng. Số lượng xe được nhập khẩu chiếm tỷ trọng tương đối khoảng Luan van 6 30% trong tổng số ô tô con và ô tô tải được đưa vào lưu thông, trong khi ô tô khách chủ yếu được sản xuất, lắp ráp trong nước.Xe ô tô nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu từ Mỹ, Nhật, Đức, Hàn Quốc và Trung Quốc [16].
Số lượng phương tiện cơ giới đường bộ tăng nhanh, mạnh trong thời gian qua; tốc độ tăng trưởng các loại xe ô đạt 12%/ giai đoạn 2009- 2011, trong đó xe con có tốc độ tăng cao nhất là 17%/năm, xe tải khoảng 13%, xe khách tăng không đáng kể; xe máy tăng khoảng 15%, số lượng xe máy năm 2011 là 33. Đơn vị: chiếc, theo Cục Đăng kiểm Việt Nam Loại phương tiện 2007 2009 2010 2011 Tổng ô tô 1.452 Xe khách 89.200 Mô tô, xe máy 21.433 Bảng 1: Số lượng phương tiện cơ giới đường bộ Chất lượng phương tiện cơ giới đường bộ được cải thiện đáng kể đặc biệt là ô tô chở khách; tỷ lệ phương tiện có tuổi thọ dưới 12 năm đối với chủng loại ô tô chở khách tính đến hết năm 2011 chiếm 78%. Số lượng phương tiện cũ, nát giảm hẳn, nhiều phương tiện mới, hiện đại đã được thay thế trong đó có một số lượng không nhỏ xe trung và cao cấp. Phương tiện có trọng tải lớn (7-20T) chiếm 19-20%, loại trên 20T chiếm 0,55-0,6% tổng phương tiện vận tải hàng hóa [11].
Luan van 7 ❖ Xe buýt Hình 5: Xe buýt tại thành phố Hồ Chí Minh [5]. Xe buýt là một loại xe có bánh lớn, chạy bằng động cơ và được chế tạo để chở nhiều người ngoài lái xe. Thông thường xe buýt chạy trên quãng đường ngắn hơn so với những loại xe vận chuyển hành khách khác và tuyến xe buýt thường liên hệ giữa các điểm đô thị với nhau. Từ "buýt" trong tiếng Việt đến từ autobus trong tiếng Pháp; các từ bus, autobus.
trong các ngôn ngữ châu Âu có gốc từ omnibus trong tiếng Latinh, có nghĩa là "dành cho mọi người".