chương 1 của bài nghiên cứu, nhóm tác giả đã trình bày một cách tổng quan nhất về mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, ngoài ra còn nhấn mạnh tính mới của đề tài và kết cấu của bài nghiên cứu. Tiếp theo của bài nghiên cứu sẽ là cơ sở lý luận về hành vi sử dụng xe buýt để làm nền tảng phục vụ xuyên suốt đề tài, nội dung này sẽ được trình bày ở chương 2. 11 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI SỬ DỤNG XE BUÝT 2. Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt 2.
Khái niệm VTHKCC bằng xe buýt VTHKCC là loại hình vận tải đô thị đáp ứng được khối lượng nhu cầu đi lại của mọi tầng l ớp dân cư một cách thường xuyên và liên tục bằng các phương tiện như xe buýt, xe điện ngầm, xe điện treo, metro,. Theo Quyết định 34/2006/QĐ-BGTVT ngày 16 tháng 10 năm 2006 của Bộ GTVT, VTHKCC bằng xe buýt là hoạt động vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định có các điểm dừng đón, trả khách và xe chạy theo biểu đồ vận hành. Trong đó, thuật ngữ về xe buýt đã quy định thống nhất theo Tiêu chuẩn quốc tế ISO- 8333 và TCVN-6211 (1996) về phương tiện giao thông đường bộ, kiểu – thuật ngữ và định nghĩa (xem phụ lục 2). Trong phạm vi bài nghiên cứu, nhóm tác giả chọn ô tô buýt thành phố là đối tượng phân tích mang đặc điểm không đòi hỏi tính việt dã cao như phương tiện vận chuyển hành khách liên t ỉnh, có tính năng động lực và gia tốc cao vì phương tiện phải chạy trên tuyến đường ngắn và thường xuyên tr ả khách, có cấu tạo phù hợp đảm bảo an toàn và hiệu quả cho hành khách, đảm bảo vệ sinh môi trường (tiếng ồn, độ ô nhiễm của khí xả,.), chi phí đầu tư tương đối thấp so với các phương tiện VTHKCC hiện đại khác… 2.
Vai trò VTHKCC bằng xe buýt Thứ nhất, về mặt kinh tế, VTHKCC bằng xe buýt góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội thông qua việc tiết kiệm thời gian và chi phí vận chuyển. Tại các nơi đông dân, tần suất đi lại nhiều và tổng cự li đi lại lớn. Vì vậy, vận chuyển bằng xe buýt s ẽ tận dụng được lợi thế về quy mô, hạn chế được các vấn đề về giao thông do đó tiết kiệm thời gian và chi phí. Theo Bùi Xuân Cậy (2009), nếu mỗi chuyến xe chạy chậm 10 phút thì dẫn đến tổng năng suất lao động xã hội giảm từ 2,5 – 4%, năng suất lao động của công nhân có cự li đi làm 5 km giảm 12% và trên 5 km giảm từ 10 – 25% so với những công nhân sống gần nơi làm việc (chỉ cần đi bộ).
Vì vậy, VTHKCC bằng xe buýt nếu có thể đáp ứng tối đa nhu cầu đi lại của mọi tầng lớp sẽ đem lại nhiều lợi ích về kinh tế và hạn chế sự phát sinh một số vấn 12 đề xã hội tiêu cực. Ngoài ra, VTHKCC bằng xe buýt góp phần tiết kiệm chi phí chung cho xã hội như chi phí đầu tư phương tiện, chi phí điều hành quản lý giao thông, chi phí do lãng phí thời gian do tắc đường… Thứ hai, về mặt xã hội, theo Nghị định 31/2005/NĐ-CP ngày 11/03/2005, VTHKCC bằng xe buýt đảm bảo công bằng và đem lại lợi ích cho đời sống nhân dân vì đây là dịch vụ công ích do các doanh nghiệp và hợp tác xã (HTX) thực hiện theo phương thức đấu thầu hoặc đặt hàng, đồng thời giá vé xe buýt do Nhà nước quy định và giá vé này thường thấp hơn giá thành để có thể cạnh tranh với các loại PTCN đồng thời phù hợp với thu nhập bình quân của người dân. VTHKCC bằng xe buýt tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lưu thông hàng hóa và hành khách. Sự gia tăng dân số và sự bùng nổ các đô thị, khu công nghiệp, khu thương mại,.
đã tạo nên nhu cầu lớn về vận chuyển. Người dân ở mọi mức thu nhập khác nhau đều có nhu cầu về phương tiện đi lại tiết kiệm và tiện nghi. Một mặt, VTHKCC bằng xe buýt có thể đáp ứng được lượng l ớn nhu cầu vận chuyển, tạo điều kiện cho mọi người dân thuộc mọi tầng lớp được bình đẳng trong quá trình tận hưởng dịch vụ. Mặt khác, xe buýt còn được sử dụng như một phương tiện chuyển tiếp và vận chuyển kết hợp với các phương tiện vận tải khác.
Trong các thành phố có quy mô vừa và nhỏ, xe buýt góp phần tạo dựng thói quen đi lại bằng PTCC cho người dân thành phố và tạo tiền đề để phát triển các hình thức VTHKCC hiện đại, nhanh chóng, sức chứa lớn trong tương lai. Thứ ba, về mặt sức khỏe và môi trường, VTHKCC bằng xe buýt đảm bảo an toàn tính mạng và sức khoẻ cho người đi lại. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Ngân hàng thế giới (WB), mỗi năm thế giới có hơn 1,2 triệu người chết vì TNGT đường bộ. Nếu chính phủ các nước không có biện pháp ngăn chặn tình trạng này thì đến năm 2020, TNGT sẽ là nguyên nhân đứng thứ ba trong các nguyên nhân gây tử vong cho con người (Thanh Hoa, 2012).
T ại Việt Nam, số lượng PTCN tăng nhanh và mật độ giao thông dày đặc là nguyên nhân chính gây ra các vụ tai nạn. Do đó, VTHKCC bằng xe buýt giúp đạt được các mục tiêu s ức khỏe cộng đồng và cải thiện sự an toàn của người dân (Todd Litman, 2010). Ngoài ra, VTHKCC bằng xe buýt góp phần bảo vệ môi trường. Ủy ban môi trường thế giới 13 (1990) khẳng định khí thải của các phương tiện vận tải hủy hoại môi trường.
Trong khi, PTCC giúp giảm kẹt xe, ô nhiễm môi trường và TNGT (Morley C. Do đó, thay thế PTCN bằng xe buýt sẽ hạn chế mật độ ô tô, xe máy – những phương tiện thường xuyên thải ra thành phần độc hại ra môi trường như: cacbuahiđrô, ôxitnitơ, chì,. Một số khái niệm liên quan Tuyến xe buýt là đường đi của xe buýt có điểm đầu, điểm cuối và các điểm dừng đón trả khách theo quy định và được trang bị các cơ sở vật chất chuyên dụng như: nhà chờ, trạm dừng, biển báo,… để tổ chức vận chuyển hành khách trong thành phố. Trạm dừng, nhà chờ xe buýt là vị trí xe buýt phải dừng để đón trả khách theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Điểm đầu, điểm cuối của tuyến xe buýt là nơi bắt đầu, kết thúc của một hành trình xe chạy trên một tuyến. Ô sơn là nơi để nhận biết khu vực đón xe của hành khách cũng như dừng xe tuy nhiên hành khách không được cung cấp bất cứ thông tin nào về mạng lưới tuyến. Biểu đồ chạy xe buýt trên một tuyến là tổng hợp lịch trình chạy xe của các chuyến xe tham gia vận chuyển trên tuyến trong một thời gian nhất định. Vé lượt là chứng từ để khách sử dụng đi một lượt trên một tuyến xe buýt.
Vé tháng là chứng từ để khách sử dụng đi lại thường xuyên trong tháng trên một hoặc nhiều tuyến. Bến xe là khu đất bên ngoài đường giao thông hay tập hợp các công trình xây dựng để đỗ cho nhiều tuyến xe buýt. Bến kĩ thuật là nơi dùng để sửa chữa, bảo dưỡng xe buýt. Doanh nghiệp vận tải tham gia khai thác tuyến xe buýt (kể cả hoạt động đưa rước học sinh, sinh viên và công nhân theo hình thức hợp đồng) là doanh nghiệp, Hợp tác xã (HTX), Liên hiệp HTX có chức năng kinh doanh vận tải theo quy định.
Một số khung lý thuyết về hành vi 2. Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action- TRA) Mô hình đượ c xây dựng từ những năm 60 của thế kỉ XX sau đó được điều chỉnh và mở rộng bởi Ajzen và Fishbein (1975, 1980), TRA được coi là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội. Lý thuyết hành động hợp lý cho rằng ý định thực hiện quyết định hành vi. Mối quan hệ giữa ý định thực hiện hành vi và hành vi đó có thực hiện hay không được nghiên cứu bởi các nhà khoa học như Steppard B.
và cộng s ự (1988), Ajzen và Fishbein (1975, 1980)…Các nghiên cứu cho rằng ý định thực hiện là một yếu tố dẫn đến việc thực hiện hành vi và xu hướng thực hiện hành vi tác động đến ý định thực hiện hành vi đó. Theo Ajzen và Fishbein (1975, 1980), ý định là nhân tố quyết định hành vi, trong đó ý định chịu sự ảnh hưởng của hai yếu tố là thái độ cá nhân (Attitude Toward Behavior-AB) và chuẩn chủ quan (Subjective Norm-SN). Thái độ cá nhân được đo lường dựa trên niềm tin đối với các thuộc tính sản phẩm và được đánh giá chủ quan bởi các cá nhân. Theo Schiffman và Kanuk (1987), thái độ được cấu thành từ: nhận thức, cảm xúc (sự ưa thích) và xu hướng thực hiện hành vi.
Ajzen và Fisher (1975, 1980) cho rằng quyết định phụ thuộc vào khả năng mang lại lợi ích của các thuộc tính và mức độ nhiều ít khác nhau. Chuẩn chủ quan là sức ép xã hội về nhận thức khi tiến hành thực hiện hoặc không thực hiện hành vi. Chuẩn chủ quan được đo lường bằng sự tác động, thúc đẩy thực hiện hoặc không thực hiện của các tác nhân gây ảnh hưởng và niềm tin về sự ảnh hưởng đó. Mô hình giải thích các yếu tố tác động đến thực hiện hoặc không thực hiện hành vi dựa trên hai tác động chính của thái độ và các yếu t ố xã hội (chuẩn chủ quan).
Tuy nhiên vì ý định là nhân tố chính hình thành hành vi nên TRA chỉ giải thích được các trường hợp hành động có ý thức, bỏ qua các trường hợp hành động trước ý thức, hành động theo thói quen hoặc hành động bất hợp lý. Lý thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) Lý thuyết hành vi dự định được Ajzen (1991) phát triển từ lý thuyết TRA của Ajzen và Fisher (1975). Theo TPB, hành vi được hình thành dưới sự kiểm soát của 15 ý định. Ý định chịu sự tác động của thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi.
Việc hành vi có được thực hiện hay không phụ thuộc vào sự kiểm soát hành vi. Nói cách khác, thực hiện hành vi giải thích trong TPB chịu sự tác động của sự kiểm soát và ý định. Mô hình TPB được tóm tắt theo hình 2.1: Mô hình lý thuyết hành vi dự định Thái độ Hành vi thực sự Ý định hành vi Chuẩn chủ quan Kiểm soát hành vi Nguồn: Ajzen, 1991 Nhân tố được bổ sung là nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control - PBC).