Đặt vấn đề Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp luận nghiên cứu Chương 4: Thu thập số liệu Chương 5: Những kết quả nghiên cứu đạt được Chương 6: Kết luận và Kiến nghị HVTH: Nguyễn Trường Minh Trang 15 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Ts. Chu Công Minh CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Các khái niệm cơ bản: - Khoảng cách (Gap): Trong quá trình tham gia giao thông, người lái xe luôn giữ một cự ly nhất định đối với xe đi phía trước để đảm bảo an toàn và tính chủ quan khi xử lý một tình huống bất ngờ. Cự ly này được gọi là khoảng cách giữa các xe tham gia giao thông. Tùy thuộc vào từng loại phương tiện giao thông, vận tốc, giới tính, tâm lý vào lúc đang tham gia giao thông… thì sẽ có một khoảng cách tương ứng với từng trường hợp cụ thể.1 Khoảng cách trong trường hợp xe muốn nhập dòng Hình 2.2 Khoảng cách trong trường hợp xe muốn cắt dòng HVTH: Nguyễn Trường Minh Trang 16 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Ts.
Chu Công Minh - Khoảng cách chấp nhận (Gap acceptances): Trước khi thực hiện một quá trình nhập dòng, tách dòng hay cắt dòng thì người lái xe phải đối diện với rất nhiều khoảng cách. Dựa trên cảm nhận chủ quan của mình họ phải đánh giá và xác định cái khoảng cách nào đủ lớn, an toàn để có thể thực hiện quá trình nhập dòng, tách dòng và cắt dòng thành công. Hiện tượng này được gọi là “Khoảng cách chấp nhận”. Quá trình lựa chọn khoảng cách này phụ thuộc vào phán xét của mỗi cá nhân tham gia giao thông, và điều kiện tham gia giao thông của mỗi người lúc đó mà sẽ có những Khoảng cách chấp nhận khác nhau.
- Khoảng cách tối ưu (Critical gap): Khái niệm về Khoảng cách tối ưu được đưa ra bởi Raff, đó là khoảng cách mà số lượng Khoảng cách chấp nhận nhỏ hơn nó bằng với số lượng Khoảng cách bị từ chối dài hơn nó, tức là số người chấp nhận khoảng cách đó tương đương hoặc bằng với số người từ chối khoảng cách đó.Tùy thuộc vào điều kiện của mỗi cá nhân tham gia lưu thông mà sẽ có nhiều Khoảng cách chấp nhận khác nhau. Cần phải xác định chiều dài Khoảng cách chứa Khoảng cách tối ưu.2 Các nghiên cứu trước đây: Đã có nhiều nghiên cứu về Khoảng cách chấp nhận, và cũng có nhiều công thức được đưa ra, nhưng khi dòng xe di chuyển từ ít tới trung bình, người ta chấp nhận rằng khoảng cách giữa các xe là phân phối ngẫu nhiên. Vì vậy người ta thường sử dụng phương pháp xác suất để tính khả năng xuất hiện Khoảng cách chấp nhận trong một dòng xe. Thông thường người ta giả sử dòng xe (trong khoảng ít đến trung bình) theo phân phối Poisson.
- Xác suất của x xe đến tại bất kì giai đoạn t nào được biểu diễn như sau: ( )= ! Trong đó: x = 1,2… P(x): Xác suất x xe đến trong thời gian t (giây) HVTH: Nguyễn Trường Minh Trang 17 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Ts. Chu Công Minh : Giá trị trung bình của các xe đến trong thời gian t Giá trị trung bình của các xe đến trong 1 giây là: = l∗ Với l= V/T , V là lưu lượng xe đến trong thời gian T Công thức xác định tần xuất xuất hiện khoảng cách chấp nhận theo phân phối Poisson được đưa ra như sau: - Số Khoảng cách lớn hơn hay bằng Khoảng cách tối ưu được tính như sau:. (ℎ ≥ ) = ( − 1) l - Số Khoảng cách nhỏ hơn Khoảng cách tối ưu được tính như sau:. (ℎ < ) = ( − 1)(1 − l ) Như vậy để xác định số Khoảng cách chấp nhận xuất hiện trong một dòng giao thông thì ta hoàn toàn có thể ứng dụng xác suất vào để tính toán được.
Khoảng cách chấp nhận là một nhân tố quan trọng trong quá trình tham gia giao thông, phản ánh ứng xử của mỗi cá nhân tham gia giao thông khác nhau. Để nắm bắt và hiểu rõ về nhân tố này đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện. Sun Yon Hwang và các đồng sự (2003) đã nghiên cứu về khoảng cách chấp nhận tại mặt cắt nhập dòng ở đường cao tốc (đối với xe ô tô). Để mô phỏng ứng xử của người lái xe khi thực hiện chuyển làn, ông đã xây dựng mô hình khoảng cách chấp nhận phụ thuộc vào nhiều biến khác nhau.
Trong quá trình mô phỏng ông đã phân ra làm hai trường hợp chính, đó là: Tuỳ ý chuyển làn và bắt buộc chuyển làn. Đối với trường hợp Tuỳ ý chuyển làn có các nhân tố ảnh hưởng như: Chiều dài khoảng cách, tốc độ của xe thực hiện chuyển làn, tốc độ của xe phía trước và xe phía sau ở làn bên cạnh, loại xe thực hiện chuyển làn. Trường hợp Bắt buộc chuyển làn: ngoài các nhân tố như trường hợp Tuỳ ý chuyển làn còn kể đến nhân tố Khoảng cách còn lại. HVTH: Nguyễn Trường Minh Trang 18 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Ts.
Chu Công Minh Cuối cùng ông đưa ra được mô hình khoảng cách chấp nhận bao gồm bảy biến: Khoảng cách phía trước, khoảng cách phía sau, khoảng cách với xe phía trước cùng làn, khoảng cách còn lại, xe tải tải nặng chủ thể, xe tải nặng mục tiêu, hằng số. Tuy nhiên mô hình còn có mô hình mà ông đưa ra chưa thể hiện được ứng xử của người lái xe trong giờ cao điểm, tắc nghẽn. Farah và các đồng sự (2007) nghiên cứu về mô hình vượt xe của xe ô tô thông qua việc chấp nhận khoảng cách khi tham gia lưu thông. Ông đã xây dựng một phòng thí nghiệm sử dụng mô phỏng lái xe STISIM để thu thập dữ liệu về ứng sử của lái xe khi thực hiện vượt xe.
Phòng thí nghiệm gồm một bảng câu hỏi và một phiên bản mô phỏng lái xe. Người tham gia thí nghiệm được yêu cầu lái xe trên đoạn đường dài 9km, từ đó thu thập các dữ liệu về vị trí dọc đường, ngang đường, tốc độ, gia tốc của tất cả các xe trong mô hình. Ông đã xây dựng mô hình Khoảng cách chấp nhận như là mô hình lựa chọn nhị phân logrit. Ông đã cho thấy một số yếu tố ảnh hưởng đến ứng xử của người lái xe khi tham gia giao thông như: Tốc độ của xe thực hiện vượt càng cao thì xác suất chấp nhận khoảng cách cũng tăng theo.
Ngoài ra đặc điểm của người lái xe cũng ảnh hưởng đến khoảng cách vượt chấp nhận. Đối với những lái xe có tính lo lắng, kiên nhẫn, cẩn thận thì họ thường có đòi hỏi khoảng cách tối ưu lớn hơn, vì vậy xác suất chấp nhận khoảng cách của họ cũng giảm khi mức độ lo lắng, kiên nhẫn, cẩn thận tăng lên. Nghiên cứu còn cho thấy rằng những người lái xe trẻ tuổi có xu hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn so với những người nhiều tuổi. Tuy nhiên tính thực tế của mô hình mà H.
Farah và các đồng sự đưa ra là chưa cao, vì toàn bộ thí nghiệm được thực hiện ở trong phòng, các số liệu sử dụng để diễn đạt cho ứng xử của người lái xe là khó thu thập được ở trong thực tế. Nghiên cứu chỉ tập trung vào một đối tượng là ô tô, tuyến đường và điều kiện giao thông khá đơn giản. Chu Công Minh và các đồng sự (2010) đã nghiên cứu về mô hình chấp nhận khoảng cách của xe máy. Ông đã thiết lập các công thức tính Khoảng cách chấp nhận tối ưu.
Theo tác giả các biến tác động đến các khoảng cách tối ưu bao gồm: tốc độ tương đối của xe thực hiện chuyển làn với xe phía trước, HVTH: Nguyễn Trường Minh Trang 19 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Ts. Chu Công Minh phía sau ở làn bên cạnh, và các hằng số. Độ lớn của hai khoảng cách này đều phụ thuộc vào các tốc độ tương đối. - Đối với xe phía trước ở làn bên cạnh : Tốc độ tương đối với khoảng cách tối ưu tỉ lệ nghịch với nhau.
Nếu tốc độ tương đối càng cao thì khoảng cách được chấp nhận lại càng nhỏ. Công thức tính khoảng cách tối ưu với xe phía trước ở làn bên cạnh được tính như sau: , , , ( ) = exp [0.295min (0, ∆ ( )) + ( )] Đối với xe phía sau ở làn bên cạnh: Khi tốc độ của xe phía sau cao hơn nhiều so với tốc độ của xe thực hiện chuyển làn thì khoảng cách cần thiết để thực hiện chuyển làn phải được tăng lên theo. Công thức tính khoảng cách tối ưu với xe phía sau ở làn bên cạnh được tính như sau: , , , ( ) = exp [−2,343 + 0.732 (0, ∆ ( )) + ( )] Trong đó : , , :Khoảng cách tối ưu với xe phía trước tại làn i của xe thứ n tại thời điểm t , , : Khoảng cách tối ưu với xe phía sau tại làn i của xe thứ n tại thời điểm t , ∆ ( ) :Tốc độ tương đối của xe thứ n với xe phía trước ở làn i tại thời điểm t , ∆ ( ) : Tốc độ tương đối của xe thứ n với xe phía sau ở làn i tại thời điểm t HVTH: Nguyễn Trường Minh Trang 20 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Ts. Chu Công Minh Tác giả cũng đã chỉ ra một số hạn chế còn tồn tại như: Phạm vi nghiên cứu của mô hình khoảng cách chấp nhận của xe máy trong bài báo này chỉ giới hạn là ba làn đường xe máy ảo, nhưng trong thực tế có thể tồn tại nhiều làn đường xe máy ảo hơn nữa.
Ngoài ra, trong quá trình tham gia giao thông, các xe máy khác hoàn toàn có thể thay đổi làn ảo của mình bất cứ lúc nào, nhưng trong mô hình thì các xe máy này vẫn giữ nguyên chuyển động của mình. Kazi Iftekhar Ahmed (1999) đã đưa ra mô hình chuyển làn dành cho xe ô tô, mô hình này sau đó đã được nhiều người ứng dụng và phát triển. Ông đã phân ra hai loại chuyển làn, đó là: Tùy ý chuyển làn và bắt buộc chuyển làn. Khi chuyển làn, người lái xe đều có hai sự lựa chọn làn (làn bên trái và làn bên phải).
Người lái xe sẽ đưa ra đánh giá về các khoảng trống ở làn mục tiêu, nếu người lái xe chấp nhận khoảng cách nào đó, thì khi đó quá trình chuyển làn mới được thực hiện.3 Cấu trúc mô hình chuyển làn của Ahmed HVTH: Nguyễn Trường Minh Trang 21 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Ts.