CHƯƠNG 1: MỞ ĐẨU. Một số vấn đề về đề tài nghiên cứu, ý nghĩa khoa học, thực tiễn của nó trong giai đoạn hiện nay. Một vấn đề hoàn toàn mới, đòi hỏi phạm vi nghiên cứu khá rộng. o CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN.
Giới thiệu sơ lược một số dạng hư hỏng của mặt đường BTN. Cái nhìn chung về đề tài nghiên cứu hiện nay ở nước ta và trên thế giới. o CHƯƠNG 3: CHƯƠNG TRÌNH PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ ẢNH. Giới thiệu sơ lượt về Matlab.
Một số khái niệm về ảnh số để có cái nhìn rõ ràng hơn trong việc xử lý ảnh. o CHƯƠNG 4: ỨNG DỤNG CHƯƠNG TRÌNH PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ HÌNH ẢNH ĐỂ XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ HÌNH HỌC CỦA Ổ GÀ. Hai vấn đề chính và quan trọng nhất trong mục này là xác định diện tích ổ và chiều sâu của ổ gà. Một vấn đề phụ là nhận dạng ổ gà.
14 CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 2.1 Một số dạng hư hỏng của mặt đường BTN 2.1 Một số hư hỏng thường gặp Dựa trên các tiêu chí đánh giá hư hỏng mặt đường bê tông nhựa của Tiêu chuẩn thiết kế áo đường mềm 22TCN 211-06 và căn cứ báo cáo kết quả khảo sát của Công ty Quản lý Cầu đường [3, 4], các dạng hư hỏng mặt đường thường gặp trên các tuyến đường của nước ta được xác định như Bảng sau: Bảng 2.1: Một số dạng hư hỏng thường gặp Dạng hư Số hiệu Tầng mặt nhựa Tiêu chí đánh giá mức độ nghiêm trọng hỏng - Nhẹ: Bề rộng khe nứt < 6 mm không gây Nứt dọc, Nứt xóc khi xe chạy qua; 1.1 ngang, Nứt phản - Vừa: bề rộng > 6 mm, gây xóc; ảnh - Nặng: nứt rộng, sâu, gây va đập khi xe chạy qua. Nứt - Nhẹ: Các đường nứt chưa liên kết với Nứt mạng lưới nhau; 1.2 (nứt mai rùa hoặc - Vừa: Đã liên kết thành mạng; nứt thành miếng) - Nặng: Nứt lan ra ngoài phạm vi vệt bánh xe và liên kết với nhau như da cá sấu. - Cách đo: Dùng thước 1.22 m đặt ngang vệt hằn; cứ cách 7.5 m đo một chỗ rồi lấy Vệt hằn bánh, lún Biến 2.1 trị số trung bình cho mỗi đoạn. sụt dạng bề - Vệt hằn sâu trung bình 6-13 mm: nhẹ; mặt 13-25 mm: vừa và > 25 mm: nặng.2 Làn sóng, xô dồn - Nghiêm trọng (không phân mức độ) 2.3 Đẩy trượt trồi - Nghiêm trọng (không phân mức độ) - Diện tích càng lớn thì mức độ hư hỏng 3.1 Chảy nhựa càng nặng.
Hư hỏng Bong tróc, rời rạc 3.2 - Không phân mức độ nghiêm trọng bề mặt Mài mòn, lộ đá - Đánh giá theo chủ quan của kỹ sư điều 3.3 Ổ gà tra; nếu đã vá sửa tốt thì xếp mức độ nhẹ; chưa vá sửa và đang phát triển: nặng 15 2.1 Vết nứt Theo hướng phát triển của đường nứt, các vết nứt xuất hiện trên mặt đường thường bao gồm 4 loại sau: vết nứt ngang, vết nứt dọc, vết nứt mạng lưới hoặc vết nứt phản ảnh. Theo chiều rộng vết nứt thì bao gồm vết nứt hẹp, vết nứt trung bình và vết nứt rộng. Vết nứt ngang, dọc: Là các vệt nứt xuất hiện theo chiều ngang và chiều dọc đường. Nứt mạng lưới: Trên mặt đường xuất hiện các vệt nứt dạng lưới, các đường nứt phát triển theo thời gian và dưới tác dụng của khí hậu, tải trọng xe.
Các lưới có thể chưa liên kết hoặc đã liên kết với nhau thành mạng, hoặc đã nứt ra thành miếng có dạng như da cá sấu. Nứt phản ảnh: Các vệt nứt phản ảnh này xuất hiện khi lớp kết cấu bên dưới mặt đường BTN bị nứt (lớp móng dưới bị nứt, thảm chồng lên lớp BTN cũ đã bị nứt không được xử lý), trong trường hợp thảm mặt đường BTN tại vị trí cống, trên mặt cầu hoặc mặt đường nhựa thảm trên tấm bê tông xi măng. Khi chịu tác dụng trùng phục của bánh xe, lớp mặt đường BTN bên trên chịu các ứng suất kéo và có xu hướng sao chép vệt nứt của các lớp kết cấu phía dưới. Nứt dọc Nứt ngang Hình 2.1: Một số vết nứt thường gặp 2.2 Biến dạng bề mặt Gồm các dạng hư hỏng như: mặt đường bị vệt hằn bánh, lún sụt; làn sóng, xô dồn; đẩy trượt trồi.
16 Vệt hằn bánh, lún sụt: vết lún dài trên mặt đường dọc theo vệt bánh xe, mặt đường mặt đường bị lún lõm cục bộ không còn giữ được độ bằng phẳng. Trong một số trường hợp mặt đường bị hiện tượng “cao su”: mặt đường bị biến dạng lớn và rạn nứt dưới tác dụng của bánh xe. Khi có tải trọng xe thì lún võng xuống, khi xe đi qua hẳn thì có thể đàn hồi trở lại một phần hoặc toàn bộ, kết cấu mặt đường dần dần sẽ bị phá vỡ một phần hay hoàn toàn. Làn sóng, xô dồn, trồi, trượt: Hiện tượng dồn, trượt và đẩy trồi là một đoạn các đoạn đẩy trồi và lún võng xuất hiện thành dải với chiều dài nhỏ hơn 1.5m doc theo chiều ngang của mặt đường.
Lún xô dồn Lún vệt bánh xe Hình 2.2: Một số loại biến dạng bề mặt 2.3 Hư hỏng bề mặt Gồm các dạng hư hỏng như: mặt đường bị chảy nhựa, mặt đường bị bong tróc, rời rạc, lộ đá, mặt đường bị ổ gà. Mặt đường bị chảy nhựa: Mặt đường BTN khi được thiết kế cấp phối với một hàm lượng thừa nhựa (nhựa ở dạng tự do nhiều), khi chịu tác dụng của nhiệt độ do bức xạ mặt trời gây nên cộng thêm tác dụng của tải trọng xe sẽ xuất hiện hiện tượng chảy nhựa (nhựa đường trồi lên trên mặt) làm giảm cường độ của lớp BTN và dễ bị trơn trượt. 17 Chảy nhựa Bong tróc Hình 2.3: Một số loại hư hỏng bề mặt Mặt đường bị bong tróc (bong bật), rời rạc, lộ đá: Lớp mặt BTN bị bong khỏi mặt đường dưới sự tác dụng lâu dài của nước làm cho nhựa bị tách ra khỏi các cốt liệu dẫn đến mặt đường bị rời rạc trên mặt và sẽ dần bị bong tróc và cuối cùng sẽ tạo ra các ổ gà. Ổ gà: Là những vết lõm xuất hiện trên mặt đường do sự bong bật mạnh mẽ lớp mặt đường tạo thành.4 Các dạng hư hỏng mặt đường theo thời gian Mặt đường bê tông nhựa sau một thời gian dài sử dụng (trên 2 năm) và dưới tác dụng của các yếu tố khí quyển sẽ có hiện tượng lớp mặt bê tông nhựa bị hóa già, không còn tính đàn hồi và dễ bị bong bật lớp mặt, thường được gọi là mặt đường BTN bị bạc đầu.2 Hư hỏng dạng ổ gà 2.1 Khái niệm Là những vết lõm xuất hiện trên mặt đường, lớp mặt BTN bị bong khỏi mặt đường dưới sự tác động lâu dài của nước và sự chuyển động của xe trên nó làm cho nhựa bị tách ra khỏi các cốt liệu dẫn đến mặt đường bị rời rạc trên mặt và sẽ dần bị bong tróc và cuối cùng sẽ tạo ra các ổ gà [3].4: Bong tróc mặt đường (a) (b) (c) Hình 2.5: Hư hỏng dạng ổ gà theo từng mức độ nghiêm trọng (a) Nhẹ (b) Trung bình (c) Nặng 2.2 Nguyên nhân gây hư hỏng Hai nhân tố chính gây ra hư hỏng dạng ổ gà ở đường BTN là nước và sự lưu thông trên bề mặt đường.
Nước làm đất bên dưới lớp kết cấu áo đường yếu đi, xe 19 chạy qua những chỗ nứt gây bong tróc mặt đường. Mức độ nghiêm trọng của ổ gà tăng dần theo thời gian. Đầu tiên, bề mặt đường sẽ trở nên chịu tải kém, dấu hiệu là xuất hiện những vết nứt dạng da cá sấu. Cuối cùng, vùng nứt này dần dần rời ra, sau đó lớp mặt BTN bị bong khỏi mặt đường, nhựa bị tách ra khỏi các cốt liệu dẫn đến mặt đường bị rời rạc trên mặt và dần tạo ra các ổ gà.6: Nứt dạng da cá sấu Ổ gà có thể rộng cả mét và thường sâu vài cm hoặc hơn, tùy mức độ nghiêm trọng.
Nếu chúng đủ lớn, có thể gây cản trở lưu thông hoặc nguy hiểm tới con người, tai nạn nghiêm trọng rất dễ xảy ra, đặc biệt là ở những đường có tốc độ lưu thông cao.7: Ổ gà hình thành do nước và sự lưu thông của xe (a): Nước thấm xuống nền bên dưới mặt đường thông qua vết nứt. 20 (b): Nước giãn nở cùng với tác động của xe, làm yếu đi lớp nền bên dưới. (c): Nước bốc hơi, tạo nhiều khoảng trống bên dưới. (d): Mặt đường bong tróc, gãy vụn từ từ do xe lưu thông.
(e): Hình thành ổ gà. Về tổng quan, ổ gà là kết quả của các nguyên nhân sau đây [4]: Những nhân tố về khí hậu Mưa: là nhân tố ảnh hưởng tới sức chịu đựng của các vật liệu làm đường. Nước mưa đọng trên phần mặt xe chạy và thấm xuống làm cho cường độ mặt và nền đường giảm đi. Bức xạ mặt trời, nhiệt độ, nước…làm cho BTN bị “hoá già”, khả năng biến dạng giảm, dễ nứt nẻ.
Dưới tác dụng của bức xạ mặt trời, nhiệt độ mặt đường thay đổi - phát sinh ứng suất nhiệt cũng là nguyên nhân làm cho mặt đường nứt, gãy. Chất lượng của đất và các loại vật liệu xây dựng đường Chất lượng của các loại vật liệu cấu thành mặt đường BTN đóng một vai trò quan trọng đối với kết cấu áo đường. Các loại vật liệu có: Cường độ không đạt tiêu chuẩn thiết kế; Cấp phối hạt không đủ quy cách; Vật liệu không đủ sạch sẽ làm cho chất lượng mặt đường kém, nhanh bị hư hỏng. Chất lượng của thiết kế Thiết kế cấp phối BTN có hàm lượng nhựa quá ít sẽ dẫn đến bitum không đủ để tạo màng bao bọc các hạt khoáng chất, các hạt khoáng sẽ tiếp xúc trực tiếp với nhau không thông qua màng nhựa, lực dính BTN vì thế giảm đi, cường độ BTN sẽ giảm nhanh khi chịu tác dụng của nước (tính ổn định nước rất kém), cấu trúc BTN trở thành cấu trúc tiếp xúc, mặt đường dễ bị bong bật.
Thiếu hệ thống thoát nước hoặc thất bại trong việc sử dụng mương, rãnh hoặc cống để thoát nước. Nhân tố con người Con người vừa là chủ thể xây dựng - sử dụng - bảo quản những tuyến đường. Song chính con người lại là tác nhân gây nên những hư hỏng của đường do thiếu ý thức, thiếu hiểu biết. Chẳng hạn chủ phương tiện và lái xe chở hàng quá tải trọng, 21 cho phép, người dân đào rãnh ngang đường để tát nước, phơi và đốt rơm rạ trên mặt đường…làm cho mặt đường nhanh chóng bị hư hỏng.
Sự quan tâm chưa thỏa đáng của các cơ quan chức năng về chất lượng của đường BTN cũng như tính liêm chính, trung thực trong xây dựng đường.