Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về chiến lược phát triển của tổ chức. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích thực trạng và các căn cứ hình thành chiến lược phát triển trường Cán bộ quản lý GTVT Chương 4: Đề xuất Chiến lược phát triển của Trường Cán bộ quản lý GTVT đến năm 2020 và một số kiến nghị. 5 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN CỦA TỔ CHỨC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1.
Các nghiên cứu ngoài nước Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển với những bước tiến nhảy vọt trong thế kỷ 21, đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức, tri thức trở thành vốn quý, đóng vai trò quyết định trong động lực tăng trưởng kinh tế, là yếu tố cạnh tranh giữa các quốc gia. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan, vừa là quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình đấu tranh để bảo vệ lợi ích quốc gia, sự cạnh tranh trong phát triển kinh tế ở nhiều cấp độ khác nhau trong nội bộ mỗi quốc gia và giữa các quốc gia diễn ra ngày càng quyết liệt hơn, đòi hỏi phải tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hóa và đổi mới công nghệ, vì vậy vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội là vấn đề sống còn của mỗi Trường. Nhiều quốc gia phát triển trên thế giới thành công nhờ dựa vào đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng tiềm lực tri thức, tạo ra nguồn lực tri thức chất lượng cao và nền công nghệ đạt trình độ tiên tiến, vì lẽ đó, đầu tư phát triển các Trường đào tạo hàng đầu có khả năng cạnh tranh toàn cầu và đang trở thành xu thế của thời đại. Cùng với quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở nhiều lĩnh vực, toàn cầu hóa giáo dục, đào tạo hướng đến việc trao đổi học thuật, trao đổi giảng viên, học viên, công nhận giá trị bằng cấp đào tạo, chuyển đổi tín chỉ giữa các hệ thống giáo dục; triển khai và công bố các kết quả nghiên cứu chung giữa các nhà khoa học; tạo sự liên thông, hợp tác cùng phát triển giữa các đại học ở nhiều quốc gia khác nhau, các Trường đại học hàng đầu đang tích cực tham gia vào quá trình này, vừa là mục tiêu vừa là phương thức thúc đẩy sự phát triển, tuy nhiên toàn cầu hóa.
6 z Không chỉ thực hiện nhiệm vụ truyền thống là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tiên tiến, các Trường đại học hàng đầu rất chú trọng triển khai chuyển giao tri thức, gắn kết chặt chẽ giữa các nước với nhau, giữa các Trường với tổ chức và cộng đồng dựa vào thế mạnh tiềm lực của mỗi bên, nắm bắt được cơ hội và áp dụng các giải pháp đúng đắn, quyết liệt, nhiều Trường trong khu vực Châu Á đã thành công vượt trội. Số lượng Trường đại học Châu Á được xếp hạng trong nhóm 500 Trường đại học hàng đầu thế giới ngày một gia tăng, góp phần đáng kể trong việc thay đổi tiềm lực trong mọi mặt của khu vực. Michael Porter (2009), trong tác phẩm tiên phong xuất bản năm 1980 “Chiến lược cạnh tranh” của bộ ba cuốn sách: Chiến lược cạnh tranh, Lợi thế cạnh tranh và Lợi thế cạnh tranh quốc gia, đã chỉ ra phương pháp định nghĩa lợi thế cạnh tranh theo chi phí và giá tương đối và trình bày một góc nhìn hoàn toàn mới về cách thức tạo và phân chia lợi nhuận. Đặc biệt ông đã giới thiệu ba chiến lược cạnh tranh phổ quát là: chi phí thấp, khác biệt hóa và trọng tâm, chính điều đó đã biến định vị chiến lược trở thành một hoạt động có cấu trúc, [14] Trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh” (competitive advantage), Porter đã bổ sung cho tác phẩm tiên phong “Chiến lược cạnh tranh” nói trên.
Trong cuốn sách này, Michael E. Porter đã nghiên cứu và khám phá những cơ sở cốt lõi của lợi thế cạnh tranh của từng tổ chức. Lợi thế cạnh tranh biến chiến lược từ một tầm nhìn mang tính vĩ mô trở thành một cấu trúc nhất quán của những hoạt động bên trong - một phần quan trọng của tư tưởng phát triển quốc tế hiện nay. Cấu trúc đó cung cấp những công cụ hữu hiệu để hiểu được ảnh hưởng của chi phí và vị thế tương đối về chi phí của tổ chức.
Chuỗi giá trị của Porter giúp các nhà quản lý phân biệt được những nguồn lực tiềm ẩn của giá trị khách hàng (buyer value). Đó là điều có thể giúp chúng ta đưa ra một mức giá cao, và đó cũng là lý do tại sao sản phẩm hay dịch vụ này lại có thể thay thế cho sản phẩm, dịch vụ khác. [15] 7 z Joel Ross & Michael Kami (2014), trong bài viết “Thiếu vắng một chiến lược, một tổ chức giống như một con thuyền không có bánh lái” thuộc Trung tâm nghiên cứu và phát triển quản trị, đã đề cập đến vai trò của chiến lược phát triển đối với một tổ chức và đặc biệt là đối với một tổ chức. Theo đó, các tổ chức hiện nay đang cạnh tranh trong một môi trường toàn cầu hóa đầy biến động đòi hỏi phải có một chiến lược phát triển phù hợp để khai thác một cách có hiệu quả những cơ hội và xử lý thỏa đáng với những thách thức đang đặt ra để bảo đảm đạt tới hiệu quả cao và sự phát triển bền vững.
tổ chức cần phải trả lời được các câu hỏi: những cơ hội nào nên được theo đuổi? những lĩnh vực mới nào nên được đầu tư, phát triển? làm gì để có thể tận dụng và khai thác có hiệu quả những nguồn lực hiện có của tổ chức? làm gì để tổ chức có thể phát triển được những năng lực cạnh tranh bền vững trong các lĩnh vực hoạt động của mình và tạo ra sự cộng hưởng trong sự phát triển của toàn bộ tổ chức? [27] 1. Các nghiên cứu trong nước Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập mạnh mẽ với thế giới với nhiều hiệp định được ký kết như Hiệp định TPP, gia nhập cộng đồng ASEAN thì đặt ra nhiều cơ hội, thách thức cho các tổ chức của Việt Nam. Chiến lược nào để phát triển bền vững, giữ vững được thị trường trong nước và xâm nhập vào thị trường nước ngoài đang là bài toán đặt ra cho lãnh đạo các tổ chức tại Việt Nam trong bối cảnh làn sóng thâu tóm, sát nhập, tái cấu trúc đang diễn ra mạnh mẽ. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội nhờ vào giáo dục đại học, góp phần tạo nguồn nhân lực đào tạo và nghiên cứu khoa học, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, giáo dục đại học chủ yếu phát triển về quy mô, chưa chú trọng nhiều đến chất lượng đầu ra, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa được ưu tiên đúng mức; đào tạo chưa gắn liền với nghiên cứu khoa học và yêu cầu của người sử dụng; nghiên cứu khoa học ít có sản phẩm khoa học đỉnh cao, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. 8 z Trước tình hình đó, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”; chiến lược phát triển kinh tế. Xã hội giai đoạn 2015-2020, nâng cao giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế tri thức; chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2015-2020, đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, phát triển giáo dục gắn với khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế sâu rộng; Chiến lược phát triển khoa học công nghệ giai đoạn 2015-2020, đổi mới căn bản toàn diện, đồng bộ cơ chế hoạt động công nghệ, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học công nghệ với phát triển kinh tế xã hội, đẩy mạnh phát triển thị trường khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế. Đây là những căn cứ, tiền đề quan trọng để xây dựng “Chiến lược phát triển của Trường Cán bộ quản lý giao thông vận tải đến năm 2020”.
Công trình, Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI: “Chiến lược phát triển giáo dục” đã trình bày một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về cơ sơ lý luận và vận dụng trong thực tiễn xây dựng chiến lược phát triển giáo dục ở nước ta giai đoạn 2001-2010 tác giả Đặng Bá Lãm, 2003. [11] Công trình, bài báo của nhiều tác giả như Đặng Ứng Vận; Nguyễn Lộc; Trần Khánh Đức Nguyễn Hữu Châu; Phan Văn Kha; Vũ Ngọc Hải…nêu lên những quan điểm, cách tiếp cận, cách thức, quy trình triển khai xây dựng chiến lược phát triển giáo. Sách chuyên khảo của tác giả Nguyễn Lộc, 2009. Cơ sở lý luận xây dựng chiến lược trong giáo dục.
[13] Phan Huy Đường, 2016. Quản lý công, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội khi nghiên cứu về quản lý chiến lược trong một tổ chức đã xác định 3 bộ phận quan trọng nhất cấu thành một chiến lược gồm: Thứ nhất là hệ thống quan điểm cơ bản của chiến lược; Thứ hai là hệ thống mục tiêu chiến lược; Thứ ba là hệ thống các giải pháp chiến lược. [3] 9 z Vương Quân Hoàng, 2014. Nội dung quản trị chiến lược và trọng tâm trong thế kỷ XXI, đã trình bày nội dung, tầm quan trọng và đặc biệt là cách hiểu bản chất, trọng tâm của quản trị chiến lược.
Theo tác giả, với tên gọi “quản trị chiến lược” rõ ràng, hai bộ phận hợp thành là “chiến lược” và “quản trị” hiển nhiên phải đóng vai trò cốt yếu đối với cả việc xác định và thực thi. Trong đó, chiến lược theo cách diễn đạt chân phương nhất là sự xác định 3 yếu tố hợp thành là: Xác định các mục tiêu đủ lớn và dài hạn của tổ chức; Xác định và lựa chọn hành trình các bước, hành động để tiến hành thực hiện; Phân bổ nguồn lực cần thiết để hoàn thành các mục tiêu đặt ra.