CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIAO THÔNG VẬN TẢI 1. Kết cấu hạ tầng Kết cấu hạ tầng là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc được hình thành theo một cấu trúc nhất định và đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra một cách bình thường. Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải Kết cấu hạ tầng GTVT là hệ thống những công trình vật chất kỹ thuật, các công trình kiến trúc và các phương tiện về tổ chức cơ sở hạ tầng mang tính nền móng cho sự phát triển của ngành GTVT và nền kinh tế. Kết cấu hạ tầng GTVT bao gồm hệ thống cầu, đường, cảng biển, cảng sông, nhà ga, sân bay, bến bãi và hệ thống trang thiết bị phụ trợ: thông tin tín hiệu, biển báo, đèn đường,.
Giao thông vận tải Theo C. Mác: “giao thông vận tải là ngành sản xuất quan trọng của xã hội và đứng hàng thứ tư sau công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và sản xuất nông nghiệp”. [16] Giao thông vận tải là một ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt của nền kinh tế quốc dân vì nó không sản xuất ra hàng hoá mà chỉ lưu thông hàng hoá. Bản thân ngành giao thông vận tải không tạo ra của cải vật chất cũng như không làm tăng khối lượng hay thay đổi tính chất của sản phẩm mà chỉ chuyển dịch vị trí của nó từ nơi này sang nơi khác.
Bằng cách đó, giao thông vận tải đã làm tăng thêm giá trị của các sản phẩm được sản xuất ra. Vai trò của ngành giao thông vận tải 1. Vai trò của ngành giao thông vận tải đối với sự phát triển nền kinh tế quốc dân GTVT có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, là bộ phận quan trọng của kết cấu hạ tầng, có ý nghĩa quyết định đến chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Ngày nay, giao thông vận tải được coi là một trong những ngành kinh tế dịch vụ chủ yếu có liên quan trực tiếp tới mọi hoạt động sản xuất và đời sống 12 của toàn xã hội.
Nhờ có dịch vụ này mới tạo ra được sự gặp gỡ của mọi hoạt động kinh tế - xã hội, từ đó tạo ra phản ứng lan truyền giúp các ngành kinh tế cùng phát triển và ngược lại. Ngoài ra, GTVT còn có vai trò phục vụ nhu cầu lưu thông, đi lại của toàn xã hội, là cầu nối giữa các vùng miền và là phương tiện giúp giao lưu và hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia. Đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, GTVT luôn giữ vai trò rất quan trọng trong sự phát triển vững chắc và sống còn của nền kinh tế, hệ thống giao thông được ví như hệ thống mạch máu trong cơ thể. Nếu hệ thống này không thông suốt thì tổn thất cho nền kinh tế khó có thể đánh giá hết được.
- Đối với công nghiệp: GTVT được xem là cầu nối giữa việc cung ứng nguyên vật liệu với quá trình sản xuất, giữa sản xuất với thị trường tiêu thụ. GTVT có ảnh hưởng lớn đến giá thành sản phẩm công nghiệp. Chỉ tính riêng các công việc vận chuyển trong nội bộ xí nghiệp đã chiếm tới 22% giá thành sản phẩm. Đối với một số ngành công nghiệp như luyện kim, sản xuất vật liệu xây dựng,… chi phí vận chuyển từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng chiếm phần lớn giá thành sản phẩm.
- Đối với nông nghiệp: ngành GTVT có ý nghĩa rất lớn trong nền nông nghiệp thâm canh và chuyên môn hóa như hiện nay. GTVT giúp việc vận chuyển phân bón, thuốc trừ sâu, máy móc thiết bị phục vụ nông nghiệp và các sản phẩm nông nghiệp một cách kịp thời. Nếu không có ngành GTVT phát triển tốt thì sẽ không đảm bảo cho quá trình sản xuất hiệu quả cũng như các sản phẩm nông nghiệp sẽ bị hư hỏng, không đảm bảo chất lượng khi đưa đến cơ sở chế biến và thị trường tiêu thụ. - Đối với thương mại - du lịch: GTVT có vai trò vận chuyển hàng hóa và hành khách trong hoạt động thương mại và du lịch.
Hiện nay, đời sống của dân cư ngày càng được nâng cao, nhu cầu đi lại, nghỉ ngơi, giải trí ngày càng cao. Do đó, những nơi có tiềm năng phát triển du lịch sẽ làm tăng nhu cầu vận chuyển và luân chuyển hàng hóa, hành khách để phục vụ du lịch. Giao thông vận tải giữ vai trò to lớn trong phân bố sản xuất và tổ chức lãnh thổ Trong phân bố sản xuất cần phải thực hiện một nguyên tắc căn bản là làm sao cho tổng chi phí về chuyên chở sản phẩm đầu vào và đầu ra phải nhỏ nhất. Như vậy, nếu GTVT phát triển tốt sẽ giảm được chi phí vận tải, đảm bảo tốc độ vận chuyển và độ an toàn trong vận chuyển, các ngành sản xuất có cơ hội để mở rộng cự ly cung cấp nguyên liệu, năng lượng, mở rộng vùng tiêu thụ sản phẩm, mở rộng quy mô sản xuất.
13 Ngoài ra, GTVT còn có ý nghĩa to lớn đối với sự phân bố lãnh thổ, lực lượng sản xuất và phát triển vùng. GTVT nếu được tổ chức và phát triển hợp lí sẽ kết nối các trung tâm tăng trưởng, hình thành các vùng kinh tế mới, hình thành các “dải”, các “hành lang” kinh tế. Tóm lại, mối quan hệ giữa GTVT với nền kinh tế quốc dân là mối quan hệ biện chứng, cái này tạo điều kiện và tiền đề phát triển cho cái kia và ngược lại. GTVT là đòn bẩy, tạo điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế.
Vai trò của ngành giao thông vận tải đối với quần cư, đời sống văn hóa, xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng GTVT giúp cho các hoạt động sinh hoạt của dân cư được thuận tiện nên ngay từ thời xa xưa nó đã có ý nghĩa trong việc lựa chọn địa bàn cư trú. Dân cư thường tập trung đông ở các đầu mối GTVT, các trục đường giao thông. GTVT có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống ở các thành phố lớn đến mức đã hình thành một loại hình tổ chức vận tải đặc biệt là GTVT đô thị. Loại hình này có nhiệm vụ vận chuyển hành khách, hàng hóa trong thành phố và vùng ngoại ô trong phạm vi các chùm đô thị và thực hiện các công việc liên quan đến vệ sinh môi trường, an toàn đô thị.
Chính sự phát triển của GTVT đô thị đã cho phép giãn dân ở trung tâm các thành phố lớn ra các đô thị vệ tinh và vùng ngoại ô. Ở những vùng thành phố mới xây dựng, nó cho phép đưa các nhà máy, các khu công nghiệp cách xa thành phố, cách xa khu dân cư. GTVT đô thị là một điều kiện quan trọng để thay đổi quy hoạch không gian đô thị. GTVT có vai trò to lớn trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo, khắc phục sự chênh lệch giàu nghèo giữa các địa phương, các vùng.
Theo nghiên cứu của Larsen [8] “nếu đầu tư 1% GDP vào GTVT sẽ giảm 0,5% tỉ lệ hộ nghèo và nếu đầu tư 50 triệu USD vào GTVT sẽ giảm 6,7% tỉ lệ hộ nghèo trong 15 tỉnh nghèo nhất ở Việt Nam”. GTVT làm cho sự giao thương giữa các địa phương trong nước được mật thiết, dễ dàng hơn, sự quản lí của chính quyền các cấp chặt chẽ hơn. Như vậy, hoạt động của ngành GTVT góp phần tăng cường tính thống nhất mọi mặt của đất nước. Còn vai trò của GTVT đối với an ninh quốc phòng thì thật rõ ràng vì mọi hoạt động tác chiến, hậu cần đều không tách rời hoạt động vận tải.
Như vậy, trình độ phát triển của ngành GTVT có thể làm một thước đo về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và được coi là nền tảng, là cơ sở hạ tầng quan trọng. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, GTVT cần phải đi trước một bước. Đặc điểm của ngành giao thông vận tải [16] 1. Sự chuyên chở người và hàng hóa là sản phẩm đặc thù của ngành giao thông vận tải Mỗi ngành sản xuất đều tạo ra những sản phẩm nhất định.
Đối với các ngành sản xuất vật chất, sản phẩm được tạo ra rất cụ thể. Chẳng hạn, nông nghiệp tạo ra hàng loạt sản phẩm phục vụ thiết thực cho đời sống và sản xuất mà bất kì một thành viên nào trong xã hội cũng đều có nhu cầu, đơn giản từ cái ăn hàng ngày của con người cho đến nguyên liệu đối với các ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm. Hay như ngành công nghiệp, cùng với những tiến bộ khoa học - công nghệ đã tạo ra các sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng. Đó là những sản phẩm tiêu dùng đơn giản hàng ngày của nhân dân như quần áo, giày dép và những sản phẩm phức tạp như máy móc, trang thiết bị với tư cách là tư liệu sản xuất phục vụ cho các ngành kinh tế.
Tóm lại, sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất (nông nghiệp, công nghiệp) là hữu hình, sử dụng được cho đời sống hoặc cho sản xuất mà chúng ta có thể nhìn thấy được, cầm nắm được. Riêng đối với ngành GTVT thì sản phẩm của nó là vô hình. Chẳng hạn, loại vải thiều chỉ được trồng ở miền Bắc nên khi được tiêu thụ ở TP. Hồ Chí Minh hoặc các tỉnh miền Nam thì được bán với giá cao hơn rất nhiều lần so với nơi nó trồng.
Như vậy, giá thành của sản phẩm khác nhau giữa các địa phương được lí giải là: ngoài giá thành để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm và tiền lãi của doanh nghiệp còn phải cộng thêm giá trị của sự vận chuyển từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Do đó, công lao động vận tải được tính ở đây là vô hình. Sản phẩm này tuy vô hình, nhưng lại làm tăng giá trị của hàng hóa, thậm chí lên rất nhiều lần. Qua phân tích ở trên, có thể khẳng định rằng sản phẩm của GTVT là sự chuyên chở người và hàng hóa từ nơi này sang nơi khác.
Do sản phẩm đặc biệt như vậy nên chất lượng của sản phẩm này cũng được tính bằng một số tiêu chí khác với các ngành sản xuất vật chất như là: tốc độ chuyên chở, mức độ tiện nghi, an toàn cho hành khách và hàng hóa. Sử dụng nhiều nguyên, nhiên, vật liệu và lao động GTVT là ngành tiêu thụ rất nhiều sản phẩm của các ngành kinh tế khác và sử dụng nguồn lao động đông đảo có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.