CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Tổng quan về NHTM. Khái niệm NHTM. Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển gắn liền với nền sản xuất hàng hoá, nó kinh doanh loại hàng hoá rất đặc biệt đó là “tiền tệ”.
Thực tế các NHTM kinh doanh “quyền sử dụng vốn tiền tệ”. Nghĩa là các NHTM nhận tiền gửi của công chúng, của các tổ chức kinh tế xã hội. Sử dụng số tiền đó cho vay và làm phương tiện thanh toán với những điều kiện ràng buộc là phải hoàn lại vốn gốc và lãi nhất định theo thời hạn đã thoả thuận. Ngân hàng thương mại xuất hiện khá sớm trong lịch sử, nó đã tồn tại hàng trăm năm và được coi là một trong những tổ chức tài chính quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, khái niệm về Ngân hàng thương mại vẫn chưa có sự thống nhất giữa các quốc gia. Cho đến thời điểm hiện nay, khi nói về ngân hàng thương mại đã có nhiều định nghĩa với những cách nhìn nhận khác nhau, chẳng hạn: Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính. Ở Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức tiền gửi hay hình thức khác và họ dùng vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Nhà kinh tế học David Begg định nghĩa: Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở các tài khoản tiền gửi.
Ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, trong điều 4 có ghi: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng, được phép nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Vai trò của NHTM. NHTM có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế và sự phát triển của đất nước. Thứ nhất, NHTM là trung gian tài chính thông qua việc thực hiện điều chuyển các khoản tiết kiệm từ các cá nhân, hộ gia đình thành vốn tín dụng để cung cấp cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu về vốn.
Thứ hai, NHTM giữ vai trò là trung gian thanh toán bằng việc thay mặt khách hàng thanh toán các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ. Thứ ba, NHTM giữ vai trò bảo lãnh thông qua việc cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán. Thứ tư, NHTM giữ vai trò đại lý, thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, phát hành hoặc mua lại chứng khoán,. Thứ năm, NHTM thực hiện các chính sách kinh tế của chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội.
Thứ sáu, NHTM là cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia thông qua các nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế,…. Để thực hiện tốt các vai trò trên, các NHTM thực hiện các hoạt động như: hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay, hoạt động đầu tư, hoạt động thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác. - Hoạt động huy động vốn: đây là hoạt động NHTM huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế. Các NHTM thường huy động vốn dưới các hình thức: nhận tiền gửi của cá nhân, tổ chức; phát hành chứng chỉ tiền gửi; vay NHNN… - Hoạt động cho vay: ngân hàng thương mại thực hiện cấp một khoản tiền cho khách hàng có nhu cầu về vốn trong một thời gian nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Đây là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất và mang lại thu nhập chính cho các ngân hàng. Các NHTM thường cho vay dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào tiêu chí phân loại như theo thời gian, theo mục đích sử dụng vốn, theo tài sản đảm bảo. - Hoạt động đầu tư: Đầu tư là hoạt động giúp NHTM sử dụng tối đa nguồn vốn huy động được, đồng thời làm tăng thu nhập và phân tán rủi ro và đặc biệt là có thể làm gia 5 tăng ngân quỹ khi cần thiết. NHTM thường thực hiện đầu tư dưới nhiều hình thức như đầu tư mua bán chứng khoán (tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty và cổ phiếu,…), đầu tư góp vốn cổ phần, góp vón liên doanh liên kết.
- Hoạt động thanh toán: NHTM thay mặt khách hàng thanh toán các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ. Đây là hoạt động mang lại nguồn thu cho ngân hàng từ các khoản phí, đồng thời cũng giúp phát triển các hoạt động kinh doanh khác của Ngân hàng. - Các hoạt động kinh doanh khác: Ngoài các hoạt động truyền thống trên, các NHTM hiện nay còn thực hiện các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục đích tăng thu nhập, đa dạng hóa nguồn thu nhập, cũng như tăng khả năng cạnh tranh. Trong đó phải kể đến các hoạt động như kinh doanh ngoại hối, cung cấp dịch vụ bảo lãnh và các hoạt động thông tin, tư vấn, ủy thác,.
Khái quát hoạt động huy động tiền gửi KHCN tại NHTM. Khái niệm huy động tiền gửi KHCN của NHTM. Để thực hiện được vai trò chức năng của mình thì đòi hỏi ngân hàng thương mại phải có một lượng vốn hoạt động nhất định. Các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm về vốn của NHTM như sau: “Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác nhằm đạt dược mục tiêu khác nhau”.
Biểu hiện của vốn trong kinh doanh ngân hàng chủ yếu là tiền. Vốn của ngân hàng cũng có thể thuộc quyền sở hữu của chủ ngân hàng hoặc vay từ bên ngoài. Việc sử dụng vốn phải đáp ứng yêu cầu lợi nhuận và an toàn. Huy động vốn là một trong những hoạt động chính của NHTM.
Đây là hoạt động tìm kiếm các nguồn tài trợ, là hoạt động tiền đề để tiến hành các hoạt động khác. Một trong các nguồn vốn quan trọng của NHTM đó là các khoản tiền gửi của khách hàng. Ngân hàng thực hiện việc mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng. Bằng cách đó Ngân hàng đã huy động tiền gửi của các doanh nghiệp, tổ chức, dân cư.
6 Ở các nước phát triển người ta định nghĩa tiền gửi như sau: “Tiền gửi được coi tiền mà ngân hàng nhận được của khách hàng bất luận dưới danh nghĩa nào, dù phải trả lãi hay không trả lãi, với quyền sử dụng tiền đó cho hoạt động kinh doanh của mình và với bổn phận làm nghĩa vụ ngân quỹ cho người ký gửi, nhất là phải trả trong giới hạn số tiền nhận được. Tất cả những lệnh phải trả tiền của người gửi tiền bằng séc, lệnh chuyển khoản, L/C… hay bất cứ cách nào khác cũng thâm nhập vào khoản tiền gửi mà ngân hàng thu hộ cho người gửi.” Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không có định nghĩa nào cụ thể về hoạt động huy động vốn từ tiền gửi khách hàng. Tuy nhiên, theo luật các TCTD nước ta năm 2010 khoản 13 điều 4 có đưa ra định nghĩa khá cụ thể về tiền gửi khách hàng: “Tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền”.
* Đặc điểm của vốn tiền gửi: - Vốn tiền gửi trong NHTM chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM - Vốn tiền gửi là nguồn vốn không ổn định. Chính vì vậy, NHTM luôn phải duy trì một lượng tiền dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của KH. Điều này thể hiện ở việc NHTM thực hiện yêu cầu của NHNN về tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Ngoài ra, để đảm bảo tốt khả năng thanh toán, NHTM còn gửi tiền ở các tổ chức tín dụng.
- Vốn tiền gửi chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như thu nhập, lãi suất, nhu cầu đầu tư,… Từ các khái niệm trên có thể hiểu huy động vốn từ tiền gửi KHCN của NHTM là: “Huy động tiền gửi KHCN của NHTM là một trong những hoạt động chủ yếu mang lại nguồn vốn cho ngân hàng từ nguồn tiền mà các cá nhân trong xã hội gửi vào NHTM nhằm mục đích phục vụ các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệm và một số mục đích khác.” 7 Trong giai đoạn sơ khai của hoạt động ngân hàng, gửi tiền chỉ đơn thuần là hoạt động cất giữ các tài sản có giá nhằm mục đích đảm bảo an toàn. Lúc này, người phải trả phí là người gửi tiền chứ không phải là các ngân hàng, các khoản tiền chỉ được xem đơn thuần là vật được kí gửi chứ hoàn toàn không đóng vai trò là nguồn vốn đối với các ngân hàng thương mại. Khi nhu cầu tín dụng gia tăng, nghiệp vụ ngân hàng phát triển, vị thế đó bị đảo ngược, ngân hàng là người phải trả phí (lãi suất – giá cả của tín dụng), và nguồn tiền được kí gửi thay đổi vai trò của nó, trở thành nguồn vốn khả dụng và lớn nhất của các ngân hàng thương mại hiện nay. Chính vì vậy, trái ngược với quá khứ, ngân hàng là người mong muốn khách hàng gửi tiền.
Nếu trước đây, ngân hàng là người bị động trong quan hệ này thì hiện nay hầu hết tất cả các ngân hàng đều có các chính sách, phương thức để lôi kéo nguồn tiền gửi này và chính vì vậy các phương thức huy động vốn ngày càng trở nên quan trọng, phong phú và đa dạng hơn. Có thể nói, hiện nay, hoạt động huy động vốn từ tiền gửi khách hàng là một trong những hoạt động hết sức quan trọng và liên quan đến sự sống còn của các ngân hàng thương mại. Các hình thức huy động tiền gửi KHCN của NHTM. Phân theo kỳ hạn.
a) Tiền gửi không kỳ hạn: Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể gửi tiền, rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước về thời gian và số lượng.