Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Ngọc Ánh tập trung vào thực trạng hoàn thiện khung khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động huy động nguồn lực tài chính cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (DNKNST) tại Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế số.

Bối cảnh thực tiễn được tác giả xác định dựa trên sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu hướng chuyển đổi số. Từ năm 2016, sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 844/QĐ-TTg phê duyệt đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025", Việt Nam đã chứng kiến sự hình thành nhanh chóng của hơn 5.000 doanh nghiệp khởi nghiệp mới. Tuy nhiên, tỷ lệ duy trì hoạt động sau những năm đầu tiên ở mức rất thấp. Dữ liệu từ Diễn đàn đối thoại khởi nghiệp, việc làm (2017) cho thấy có tới 80% dự án khởi nghiệp thất bại, 25% doanh nghiệp không tồn tại quá 1 năm, tỷ lệ tồn tại sau 5 năm chỉ còn 10% và sau 10 năm chỉ còn 6%. Khảo sát năm 2020 của Quỹ Nextrans cũng chỉ ra tỷ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp thành công tại Việt Nam chỉ khoảng 3%, với dưới 5% doanh nghiệp tổ chức được sinh nhật lần thứ hai. Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng này là sự thiếu hụt nguồn lực tài chính để duy trì giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm. Mặc dù Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 cùng nhiều nghị định hướng dẫn (Nghị định 34/2018/NĐ-CP, Nghị định 38/2018/NĐ-CP, Nghị định 39/2018/NĐ-CP, Nghị định 39/2019/NĐ-CP, Nghị định 94/2020/NĐ-CP) đã ra đời, khung pháp lý hiện hành vẫn còn mang tính định hướng, thủ tục tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ còn phức tạp và chưa có cơ chế đặc thù phân định rõ giữa DNKNST với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) truyền thống.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về DNKNST, nguồn lực tài chính và pháp luật về huy động nguồn lực tài chính cho DNKNST.
  2. Phân tích kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia và tổ chức quốc tế (OECD, Liên minh Châu Âu, Ý, Đức, Israel, Hàn Quốc) về hỗ trợ tài chính cho khởi nghiệp sáng tạo, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
  3. Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành pháp luật về huy động nguồn lực tài chính cho DNKNST ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
  4. Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về huy động nguồn lực tài chính cho DNKNST tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, chủ trương của Đảng, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về huy động nguồn lực tài chính cho DNKNST thuộc nhóm DNNVV; kinh nghiệm pháp luật quốc tế về hỗ trợ tài chính cho khởi nghiệp sáng tạo.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống pháp luật và thực tiễn tại Việt Nam, có nghiên cứu so sánh với một số quốc gia trên thế giới.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo và công trình học thuật liên quan từ năm 2016 đến tháng 4 năm 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu pháp lý

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên việc kế thừa các khái niệm và học thuyết pháp lý, kinh tế trong và ngoài nước:

  • Khái niệm DNKNST: Khóa luận tiếp cận định nghĩa của Steve Blank (2010), Mandela Schumacher-Hodge, Neil Blumenthal và quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, kết hợp với sửa đổi tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 94/2020/NĐ-CP. DNKNST được xác định theo 3 yếu tố cốt lõi: tư cách pháp nhân (thường thuộc nhóm DNNVV), hoạt động dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới, và có tiềm năng tăng trưởng nhanh.
  • Khái niệm và cấu trúc nguồn lực tài chính: Tác giả tiếp thu quan điểm của Trần Phương Anh (2021) về bản chất nguồn lực tài chính, cùng phân loại của Söderblom & Samuelsson (2014) về nguồn vốn bên trong (vốn tự có, gia đình, bạn bè) và nguồn vốn bên ngoài (nhà đầu tư thiên thần, quỹ đầu tư mạo hiểm, trung gian tài chính).
  • Nội dung pháp luật về huy động nguồn lực tài chính: Được cấu thành từ 3 nhóm chế định: điều kiện để DNKNST được hỗ trợ tài chính; các phương thức huy động nguồn lực tài chính (tín dụng có hỗ trợ/bảo lãnh của Nhà nước, ngân sách nhà nước, và các nguồn vốn hợp pháp từ tổ chức, cá nhân tư nhân); trách nhiệm pháp lý của cơ quan nhà nước, tổ chức quản lý quỹ và các chủ thể liên quan.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai xuyên suốt:

  • Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích, tổng hợp quy phạm pháp luật; phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định của Ý, Đức, Hàn Quốc, Israel, Liên minh Châu Âu với Việt Nam); phương pháp thống kê xã hội học và điều tra khảo sát thực tế (thông qua bảng câu hỏi khảo sát ý kiến về khả năng tiếp cận vốn, thủ tục hành chính và bảo lãnh tín dụng); phương pháp bình luận pháp lý nhằm phát hiện các mâu thuẫn, khoảng trống trong hệ thống văn bản hiện hành.
  • Nguồn dữ liệu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam; Báo cáo ESM 2016 và Báo cáo chính sách 2021 của OECD; Báo cáo VCCI & USAID (2018); số liệu từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2017); Đạo luật Khởi nghiệp Ý (2012) cùng các công trình nghiên cứu của các học giả chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật về huy động nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo

Chương 1 tập trung làm rõ ranh giới học thuật giữa doanh nghiệp khởi nghiệp thông thường và DNKNST. Tác giả phân tích 5 đặc điểm đặc thù của DNKNST:

  1. Hoạt động kinh doanh gắn liền với ý tưởng đột phá, sáng tạo và có tính mới (thể hiện qua 4 dạng hoạt động đổi mới sáng tạo).
  2. Khả năng tăng trưởng cao, mở rộng quy mô nhanh chóng theo mô hình 6 bước phát triển của Marmer, Hermann và Berman (từ lên ý tưởng, đánh giá sản phẩm mẫu, kiểm định thị trường, phát triển quy mô, tối đa hóa lợi nhuận đến tái cấu trúc qua IPO).
  3. Mức độ mạo hiểm lớn và tỷ lệ rủi ro thất bại cao do thiếu lịch sử tín dụng, sản phẩm mới chưa được thị trường kiểm chứng.
  4. Là một tổ chức tạm thời mưu tìm mô hình kinh doanh có khả năng lặp lại và mở rộng, không phải là phiên bản thu nhỏ của các công ty lớn.
  5. Luôn đòi hỏi sự trợ lực trực tiếp và gián tiếp từ Nhà nước do hiện tượng bất cân xứng thông tin trên thị trường vốn.

Về phương thức huy động, chương này phân tích cơ chế vốn tín dụng có bảo lãnh của Nhà nước, tài trợ từ ngân sách qua các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, và huy động từ khu vực tư nhân (vốn đầu tư mạo hiểm - VC, nhà đầu tư thiên thần, gọi vốn cộng đồng). Khung pháp luật điều chỉnh được xác lập thành hệ thống 3 nhóm quy định: điều kiện tiếp cận hỗ trợ, quy trình phương thức huy động và phân định trách nhiệm pháp lý giữa cơ quan quản lý với tổ chức vận hành quỹ.

Chương 2: Pháp luật của một số quốc gia về huy động nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tác giả phân tích khung pháp lý và mô hình vận hành chính sách tài chính của 6 quốc gia và khu vực phát triển. Bảng tổng hợp dưới đây phản ánh các đặc trưng pháp lý được tác giả trích xuất từ văn bản:

Quốc gia / Khối Cơ chế hỗ trợ tài chính trọng tâm Điều kiện và công cụ pháp lý đặc thù Cơ quan / Thiết chế thực thi
OECD Vay ưu đãi qua NHTW và NHTM; Quỹ đầu tư mạo hiểm khu vực công tài trợ giai đoạn hạt giống. Báo cáo ESM 2016: 68,1% DN nhận vốn ngoài; DN kỳ vọng giảm thủ tục, giảm thuế và hỗ trợ vốn. Hệ thống ngân hàng thương mại và quỹ đầu tư công.
Liên minh Châu Âu (EU) Khoản vay danh dự (không tài sản thế chấp), bảo lãnh khoản vay qua 3 mô hình (công, công - tư, tư nhân). Ưu tiên phụ nữ trẻ khởi nghiệp; Quỹ bảo lãnh quốc gia (điển hình tại Hungary kết hợp hiệp hội DNNVV). Chính phủ trung ương phối hợp tổ chức tín dụng tư nhân.
Ý Đạo luật Khởi nghiệp 2012 (The Italian Startup Act); Chương trình Smart&Start Italia (ngân sách 260 triệu euro). Thành lập < 5 năm, doanh thu < 5.000 euro; thỏa mãn 1 trong 3 tiêu chí: R&D $\ge$ 15%, nhân sự chất lượng cao, có bằng sáng chế. Bộ Phát triển Kinh tế (MISE), Phòng Thương mại Ý.
Đức Trợ cấp tiền mặt trực tiếp cho người sáng lập khởi nghiệp để tạo sinh kế và duy trì hoạt động nghiên cứu. Hỗ trợ 9 tháng với mức 2.700 euro, gia hạn 6 tháng; hướng tới nhóm yếu thế (người thất nghiệp, phụ nữ). Cơ quan quản lý lao động và an sinh xã hội.
Israel Mô hình hợp tác công - tư trong quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm (khởi xướng từ thập niên 1980 - 1990). Nhà nước góp vốn lập quỹ; doanh nghiệp tư nhân quản lý, có quyền mua lại quỹ khi có lãi; Nhà nước chịu rủi ro lỗ. Cơ quan Đổi mới sáng tạo, các công ty quản lý quỹ tư nhân.
Hàn Quốc Thị trường chứng khoán khởi nghiệp (KSM) trên nền tảng Coinstack; bảo lãnh tín dụng tập trung. Trần đầu tư cá nhân: tối đa 2 triệu won/công ty/năm (tổng không quá 5 triệu won/năm); không áp trần với nhà đầu tư chuyên nghiệp. Sở Giao dịch chứng khoán Hàn Quốc (KRX), Quỹ Bảo lãnh tín dụng Hàn Quốc.

Từ kinh nghiệm quốc tế, chương 2 rút ra các bài học cho Việt Nam: cần tách bạch tiêu chuẩn pháp lý của DNKNST khỏi DNNVV thông thường; thiết lập cơ chế bảo lãnh tín dụng không bắt buộc thế chấp tài sản; triển khai mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm công - tư chia sẻ rủi ro; xây dựng sàn giao dịch vốn tư nhân trực tuyến có quy định mức trần đầu tư để bảo vệ nhà đầu tư cá nhân.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về huy động nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam hiện nay

Dựa trên cấu trúc đề tài, Chương 3 rà soát toàn diện hệ thống văn bản pháp luật thực định của Việt Nam từ năm 2016 đến nay:

  • Về mặt quy định: Phân tích các tiêu chí xác định DNKNST theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 38/2018/NĐ-CP; cơ chế hoạt động của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Nghị định 39/2019/NĐ-CP) và Quỹ Bảo lãnh tín dụng tại các địa phương (Nghị định 34/2018/NĐ-CP).
  • Về thực tiễn thi hành: Phân tích kết quả khảo sát thực tế xã hội học do tác giả thực hiện (các bảng số liệu câu 2, 3, 5, 6, 7, 8 về mức độ nhận biết chính sách, tỷ lệ tiếp cận vốn và vướng mắc thủ tục); thống kê số lượng các quỹ bảo lãnh tín dụng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ năm 2018; quy mô các dòng vốn cam kết của các quỹ đầu tư mạo hiểm dành cho khởi nghiệp Việt Nam.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Thủ tục xét duyệt hồ sơ tại các quỹ tài chính nhà nước còn kéo dài, phức tạp; quy định yêu cầu tài sản bảo đảm và lịch sử sinh lời không tương thích với mô hình DNKNST; thiếu vắng hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động của mạng lưới nhà đầu tư thiên thần và nền tảng gọi vốn cộng đồng (crowdfunding).

Chương 4: Hoàn thiện pháp luật về huy động nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 bám sát các nghị quyết, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đưa ra hai nhóm giải pháp:

  • Nhóm kiến nghị hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật: Sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng xây dựng tiêu chí định lượng riêng cho DNKNST (chi phí R&D, tỷ lệ nhân lực công nghệ, sở hữu trí tuệ tương tự Đạo luật Ý); ban hành văn bản quy định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các hình thức gọi vốn cộng đồng; quy định rõ quy chế pháp lý và ưu đãi thuế cho nhà đầu tư thiên thần, quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành: Cải cách quy trình thẩm định khoản vay tại Quỹ Phát triển DNNVV và Quỹ Bảo lãnh tín dụng, chuyển từ thẩm định dựa trên tài sản thế chấp sang thẩm định tính khả thi của công nghệ và mô hình kinh doanh; thí điểm mô hình quỹ đối ứng công - tư (học tập mô hình Israel); công khai, minh bạch hóa cơ sở dữ liệu quốc gia về các dự án khởi nghiệp sáng tạo được nhận hỗ trợ.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính được khóa luận làm rõ thông qua các dữ liệu thực chứng và lập luận pháp lý:

  • Hệ thống hóa các tỷ lệ thực tế về mức độ rủi ro của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam: 80% thất bại nói chung, 92% thất bại trong 3 năm đầu, dưới 5% doanh nghiệp vượt qua mốc 2 năm hoạt động.
  • Chỉ ra cơ cấu nguồn vốn khởi nghiệp dựa trên số liệu Báo cáo ESM 2016 của OECD: nguồn vốn tự có/tiết kiệm chiếm vị trí cao nhất (84,5%), vay mượn gia đình/bạn bè (29,6%), trợ cấp chính phủ (26,5%), trong khi vốn vay ngân hàng truyền thống chỉ chiếm 14,4%.
  • Phân tích chi tiết các định mức hỗ trợ và quy định kỹ thuật từ các mô hình lập pháp quốc tế: chương trình Smart&Start của Ý với ngân sách 260 triệu euro hỗ trợ tối đa 70% - 80% chi phí dự án; chính sách trợ cấp sinh kế 2.700 euro trong 9 tháng tại Đức; quy định giới hạn trần đầu tư 2 triệu won/công ty tại thị trường KSM Hàn Quốc.
  • Đóng góp khoa học của đề tài: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên biệt dưới góc độ luật học về "huy động nguồn lực tài chính cho DNKNST", không gộp chung vào các nghiên cứu hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung (như công trình của Bùi Bảo Tuấn, 2020) hay nghiên cứu chính sách trên phạm vi một địa phương hẹp (như luận án của Bùi Thị Hồng Hà, 2023). Đề tài cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất việc luật hóa các tiêu chí nhận diện DNKNST riêng biệt tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu giới hạn trọng tâm vào nguồn lực tài chính từ khu vực công và sự điều chỉnh của Nhà nước đối với các phương thức huy động vốn truyền thống và bán truyền thống. Khóa luận chưa đi sâu phân tích toàn diện các mô hình tài chính số phức tạp như công nghệ tài chính (Fintech), tiền mã hóa hay các hợp đồng đầu tư mạo hiểm quốc tế xuyên biên giới do hạn chế về nguồn dữ liệu thực tế tại thời điểm nghiên cứu (tháng 4/2024).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi thực tiễn áp dụng Nghị định số 94/2020/NĐ-CP và quá trình sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; nghiên cứu xây dựng khung pháp lý về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) cho các nền tảng gọi vốn đổi mới sáng tạo trực tuyến tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh, Tài chính doanh nghiệp khi nghiên cứu về pháp luật khởi nghiệp và thị trường vốn.
  • Cán bộ làm chính sách và cơ quan quản lý: Các cơ quan tham mưu thuộc Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ban quản lý các quỹ tài chính nhà nước (Quỹ Phát triển DNNVV, Quỹ Bảo lãnh tín dụng) trong việc rà soát thủ tục cấp tín dụng và bảo lãnh cho doanh nghiệp công nghệ.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất: Chương 1 về khung lý luận phân định DNKNST với DNNVV; Bảng phân tích kinh nghiệm lập pháp của Ý, Israel, Đức, Hàn Quốc tại Chương 2; và hệ thống kiến nghị hoàn thiện điều kiện tiếp cận quỹ hỗ trợ tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo khóa luận, điểm khác biệt pháp lý cơ bản giữa doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (DNKNST) và doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) truyền thống là gì? DNKNST tuy có tư cách pháp nhân thường là DNNVV nhưng khác biệt ở chỗ hoạt động kinh doanh phải dựa trên việc khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh hoàn toàn mới, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và mở rộng quy mô. Ngược lại, DNNVV truyền thống sản xuất, kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ đã phổ biến trên thị trường, ít có tính đột phá và duy trì quy mô ổn định.

2. Đạo luật Khởi nghiệp của Ý (The Italian Startup Act 2012) đặt ra những tiêu chí nào để một doanh nghiệp được công nhận là DNKNST đủ điều kiện nhận hỗ trợ tài chính? Doanh nghiệp phải là công ty TNHH hoạt động dưới 5 năm, có trụ sở tại Ý (hoặc EU nhưng có chi nhánh tại Ý), doanh thu hàng năm dưới 5.000 euro (theo số liệu văn bản trích dẫn), không niêm yết, không chia lợi nhuận, không qua M&A, và bắt buộc thỏa mãn ít nhất 1 trong 3 điều kiện: (1) chi phí R&D chiếm tối thiểu 15% tổng chi phí hoặc doanh thu; (2) nhân sự chất lượng cao (tối thiểu 1/3 là Tiến sĩ/NCS hoặc 2/3 là Thạc sĩ); (3) sở hữu hoặc được cấp phép sử dụng bằng sáng chế/phần mềm đã đăng ký.

3. Báo cáo ESM 2016 của OECD chỉ ra cơ cấu các kênh huy động tài chính của doanh nghiệp khởi nghiệp như thế nào? Theo báo cáo, tỷ lệ sử dụng vốn cao nhất đến từ tiền tiết kiệm/vốn tự có của chủ sở hữu (84,5%), tiếp theo là vay mượn từ bạn bè và gia đình (29,6%), trợ cấp của Chính phủ (26,5%), vốn nhà đầu tư thiên thần (23,8%), tài trợ nội bộ/bootstrapping (18,6%), vốn đầu tư mạo hiểm (18,1%), vườn ươm doanh nghiệp (16,2%) và thấp nhất là các khoản vay ngân hàng (14,4%). Có 68,1% DNKNST nhận được đầu tư từ các nguồn lực bên ngoài.

4. Mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm của Israel được tác giả phân tích có cơ chế chia sẻ rủi ro công - tư ra sao? Nhà nước Israel đứng ra thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm nhưng giao toàn quyền quản lý, giám sát và phân phối vốn cho các doanh nghiệp, tổ chức tư nhân chuyên nghiệp. Khi quỹ hoạt động có lãi, khu vực tư nhân có quyền mua lại phần vốn của Nhà nước; ngược lại, nếu hoạt động thua lỗ, Nhà nước sẽ đứng ra chịu rủi ro tổn thất ban đầu, từ đó kích thích nguồn vốn tư nhân tham gia đầu tư mạo hiểm.

5. Vì sao các DNKNST tại Việt Nam gặp rào cản lớn khi tiếp cận nguồn vốn vay tín dụng có bảo lãnh của Nhà nước? Do các quy định pháp lý hiện hành vẫn áp dụng chung quy chuẩn chấm điểm tín dụng của DNNVV thông thường cho DNKNST, đòi hỏi phải có tài sản bảo đảm, lịch sử hoạt động và báo cáo tài chính có lãi. Trong khi đó, DNKNST là mô hình mới thành lập, tài sản chủ yếu là sở hữu trí tuệ hoặc giải pháp công nghệ chưa được định giá rõ ràng, khiến các quỹ bảo lãnh và ngân hàng từ chối cung cấp tín dụng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Ngọc Ánh đã giải quyết tương đối toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về khung pháp lý điều chỉnh hoạt động huy động nguồn lực tài chính cho DNKNST tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia phát triển như Ý, Đức, Israel và Hàn Quốc, công trình đã làm rõ những điểm nghẽn trong việc thực thi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 cùng hệ thống quỹ hỗ trợ tài chính nhà nước. Các kiến nghị tại khóa luận cung cấp luận cứ khoa học cụ thể nhằm phân định tiêu chí pháp lý của DNKNST, đổi mới cơ chế bảo lãnh tín dụng không thế chấp và thúc đẩy các mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm công - tư trong thời gian tới.