Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý luận về quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện tại Việt Nam Chương 2. Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chương 3. Thực trạng công tác quản lý NSNN tại Huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý NSNN huỵện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN TẠI VIỆT NAM 1. Tổng quan nghiên cứu: Việc nghiên cứu hoạt động quản lý ngân sách nhà nước nói chung và ngân sách các cấp nói riêng ở nước ta trong những năm qua có rất nhiều công trình nghiên cứu.
Các vấn đề nghiên cứu bao trùm từ rất nhiều lĩnh vực trong quá trình quản lý ngân sách nhà nước, cũng như việc tổ chức và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước, có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu sau: - Sách chuyên khảo “Quản lý tài chính công ở Việt Nam” của TS. Vũ Thị Nhài (2008) đã khái quát quá trình đổi mới cũng như các nguyên tắc quản lý hoạt động quản lý tài chính công ở Việt Nam, trong đó có vấn đề quản lý hoạt động thu, chi ngân sách. Tuy nhiên, trong công trình này tác giả chưa đi sâu phân tích thực trạng, nhất là thực trạng cấp tỉnh mà mới chủ yếu nêu các nguyên tắc và các vấn đề chung vĩ mô của Việt Nam. - Luận văn thạc sỹ kinh tế tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN về "Quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách địa phương tại các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn Lâm Đồng" của tác giả Nguyễn Văn Ngọc (2012).
Trong công trình nghiên cứu này, dưới giác độ chuyên ngành tài chính – ngân hàng, tác giả đã đi sâu nghiên cứu về thực trạng quản lý sử dụng kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý ngân sách tại tỉnh Lâm Đồng bao gồm: đổi mới phương thức lập và phê duyệt dự toán chi ngân sách; cải tiến phương thức cấp phát, thanh toán; cải tiến công tác giám sát chi tiêu ngân sách; hoàn thiện hệ thống kế toán nhà nước trên cơ sở hiện đại hoá công nghệ thông tin. - Luận văn thạc sỹ kinh tế tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN về "Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương" của tác giả Nguyễn Văn Vạn (2014). Luận văn đã tập trung nghiên cứu 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạt động chi thường xuyên NSNN trên địa bàn huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, trong đó đã chỉ ra ba bất cập chính trong quản lý ngân sách của huyện Kinh Môn trong lập dự toán, phê duyệt và chấp hành dự toán NSNN.
Luận văn đã đề xuất các giải pháp về phân cấp, đổi mới việc lập và phân bổ dự toán…. Có thể nói các đề tài trên đã có đóng góp rất nhiều cho việc nghiên cứu về hoạt động quản lý ngân sách nhà nước nói chung và quản lý ngân sách cấp huyện nói riêng, tuy nhiên, với đặc thù là một tỉnh huyện miền núi, với nhiều xã nghèo thuộc chương trình 135 của một tỉnh ở Bắc Trung Bộ (Nghệ An), hoạt động quản lý NSNN, cũng như việc thực thi luật ngân sách nhà nước, bao gồm thu NS và chi NS, cũng có rất nhiều đặc điểm riêng, khác biệt. Do đó, đề tài học viên lựa chọn mặc dù có tính kế thừa, nhưng nó cũng thể hiện các quan điểm nghiên cứu độc lập của tác giả. Một số vấn đề về ngân sách nhà nƣớc 1.
Khái niệm ngân sách Theo Bách khoa toàn thư mở, ngân sách nhà nước (NSNN) là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính. Sự hình thành và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước là nguồn lực cho nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.
Quá trình hình thành ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn với quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. Ngân sách nhà nước chính vì vậy là khâu chủ đạo và đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy quyền lực Nhà nước [26]. Thuật ngữ NSNN được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu.
Theo Aaron Wildavsky, nhà khoa học chính trị về chính sách công người Mỹ, cho rằng ngân sách là: - Dự toán về chi tiêu - Là mối liên hệ giữa nguồn tài chính và hành vi để đạt được những mục tiêu chính sách - Là bản trình bày về tiền đối với các hoạt động của chính phủ - Là bản ghi nhận kết quả của vấn đề tranh cãi về những ưu tiên chính trị và nỗ lực phân bổ các nguồn lực tài chính hạn chế thông qua quá trình thương thảo chính trị để thực hiện hững mục tiêu khác nhau cho đời sống tốt hơn [24]. Theo quan điểm của chính phủ Mỹ, hệ thống ngân sách chính phủ Mỹ cung cấp cho Tổng thống và Quốc hội công cụ để quyết định bao nhiêu tiền được tiêu, được tiêu vào những việc gì, và làm thế nào để có được tiền cho những khoản chi tiêu này. Thông qua hệ thống ngân sách, chính phủ quyết định phân cổ các nguồn lực thông qua các cơ quan chính phủ liên bang. Hệ thống ngân sách tập trung chủ yếu vào tiền nhưng cũng liên quan đến phân bổ các nguồn lực khác, ví dụ nhưng định biên nhân lực của chính phủ.
Đối với hệ thống ngân sách của Mỹ, theo quan điểm của chính phủ Mỹ bao gồm : - Quá trình xây dựng ngân sách - Quốc hội thông qua ngân sách - Thực thi ngân sách [23] Theo Điều 1- Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt nam khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002, Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Theo Nguyễn Văn Tiến (2012), NSNN là dự toán (kế hoạch) thu, chi bằng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiền của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm). Về mặt bản chất, NSNN là hệ thống những mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng nhà nước [19]. Như vậy, có thể hiểu, ngân sách nhà nước là bảng phân bổ các nguồn lực tài chính của một quốc gia để thực hiện các nhiệm vụ ưu tiên trong vòng một năm.
Các khoàn thu và chi ngân sách được thực hiện thông qua các cơ quan quản lý nhà nước. Ngân sách được cơ quan hành pháp (chính phủ) các nước xây dựng và được cơ quan lập pháp (quốc hội) thông qua và giám sát quá trình thực hiện. Quá trình xây dựng ngân sách là quá trình trao đổi, thảo luận, tranh luận giữa các cơ quan hành pháp, lập pháp để đi đến thỏa thuận những mục tiêu ưu tiên của quốc gia cần thực hiện trong thời gian 1 năm. Hệ thống ngân sách và phân cấp ngân sách: Trong một quốc gia, NSNN được tổ chức và quản lý theo hệ thống gồm nhiều cấp ngân sách.
Có thể quan niệm hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, hệ thống NSNN đều được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức bộ máy quản lý hành chính nhà nước. Các quốc gia có hệ thống chính quyền Nhà nước được tổ chức theo thể chế liên bang như Mỹ, Đức, Malaysia., hệ thống NSNN bao gồm: ngân sách liên bang, ngân sách tiểu bang và NSĐP. Ở các quốc gia như Trung Quốc, Pháp, Việt Nam., hệ thống NSNN bao gồm: NSTW và NSĐP.
Hệ thống NSNN được tổ chức tương ứng với hệ thống chính quyền nhà nước, do vậy, không thể có một cấp ngân sách không gắn liền với một cấp chính quyền nhà nước cụ thể. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là cứ tương ứng với một cấp chính quyền là có một cấp ngân sách [21]. Một cấp chính quyền nhà nước là một cấp ngân sách khi đáp ứng được các điều kiện: - Nhiệm vụ giao cho cấp chính quyền đó tương đối toàn diện, không chỉ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bao gồm nhiệm vụ chính trị, phát triển hành chính xã hội mà còn cả nhiệm vụ phát triển kinh tế trên phạm vi của địa phương; - Nguồn thu ngân sách được phân định cho cấp chính quyền về cơ bản đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính quyền trên địa bàn. Những cấp chính quyền nào không đáp ứng đầy đủ hai điều kiện đó được gọi là đơn vị dự toán thuộc ngân sách cấp trên.
Ở Việt Nam, xuất phát trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, bộ máy quản lý hành chính nhà nước được tổ chức theo cấp chính quyền trung ương và cấp chính quyền địa phương. Cấp chính quyền địa phương bao gồm chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là chính quyền cấp tỉnh); chính quyền quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là chính quyền cấp huyện) và chính quyền xã, phường, thị trấn (gọi chung là chính quyền cấp xã). Mỗi cấp chính quyền địa phương đều có HĐND và UBND.