VỆ SINH THỨC ẢN 1. Những loại thức ăn có hại Có thể chia ra làm ba loại: Thức ăn sẵn có hại, thức ăn íh ố ỉ hợ p v à c h ế b iế n k h ô n g tố t, n h ữ n g loại cây cỏ độc. Thức ăn sẵn có hại * Trạng thái của thức ăn không tốt, thức ăn bị sương tó t, b ị h ấ p hơi, b ị th ố i lỏng. T h â n v à lá cây b ị n g â m iước mưa, sau khi thu hoạch dễ sinh biến chất, thành nàu nâu hoặc màu đen, mất mùi vị thơm ngon, dễ hấp lơi hoặc thối nát, khi ăn vào dạ dày hay ruột dễ bị lên nen, sinh ra quá nhiều chất khí, làm súc vật mắc bệnh ;rướng hơi dạ cỏ (loài nhai lại), hay trướng hơi manh ;ràng (loài ngựa).
* Thức ăn có lẫn những vật khác như dây th é p , đinh, ;huỷ tinh, gỗ, đất. ở những bãi chăn gần khu quân sự, chu công nghiệp. khi cắt cỏ có thể bó nhầm vào cỏ ihững dây thép gai, sắt vụn. trâu bò ăn vào thủng dạ ;ổ ong, bị viêm màng bọc ngoài của tim.
Thức ăn có lẫn ỉất bùn, cát sỏi. cho gia súc ăn sẽ làm tích luỹ lại ihiều đất, cát, sỏi trong ruột gây bí ỉa, đau bụng, tê liệt :uột, niêm mạc ruột thối loét. Cho nên trước khi cho ín phải rửa sạch thức ăn. Nhất là ỏ những vùng bị lụt, 3au khi nước rút đi, cỏ dính nhiều bùn đất, trâu bò ăn ahải dễ mắc chứng tắc ruột, nghẽn dạ lá sách, trướng tiơi.
95 1 * Thức ăn có lẫn những chất hoá học có hại, những hợp chất kim loại, những chất sá t trùng dùng cho hạt giông, những thứ phân hoá học hay thuốc trừ sâu bệnh cho cây cối hoặc những thứ củ mọc cạnh những cây có độc (như củ sắn mọc cạnh cây xoan) cũng có chất độc. Nhiều trường hợp trúng độc do súc vật ăn phải th â n cây ngô, bèo. vì phun thuốc trừ sâu. có đồng, thuốc DDT, 666, hoặc bón phân đạm.
* Thức ăn có vi trùng, nấm, ký sinh trù n g gây bệnh cho gia súc, hay thức ăn có nấm bệnh cây, sâu bọ. cỏ ở những bãi chăn trưốc đã chôn xác chết vì bệnh nhiệt th án có thể mang nha bào nhiệt thán. Nhiều loại nấm, hoặc là nấm bệnh hại cây, hoặc là nấm bệnh hại gia súc, có thể theo thức ăn vào cơ thể gây trúng độc. cỏ, rơm mang trứng giun đũa dễ truyền bệnh cho súc vật, súc vật non hay liếm láp cũng dễ lây bệnh.
Loại cây mọc ở nước như bèo, rau muống, súng, niễng, ấu. có th ể mang những ấu trùng của sán lá gan trâu bò, sán lá gan thồ, sán lá ruột lợn. Những cây CÔI đã mắc bệnh hoặc bị sâu dùng làm thức ăn cũng có thể làm hại gia súc. Ăn phải những loại thức ăn này gia súc sẽ bị trúng độc, hệ thông thần kinh, bộ máy tiêu hoá, gan thường bị trúng độc nhiều nhất, cũng có khi chất độc ngấm vào máu mà gây trúng độc toàn thân.
Khi cho gia súc ăn, phải đặc biệt chú ý loại trừ hay xử lý trước những thứ độc hại. Thức ăn phối hợp và chế biến không tốt * Thức ăn chế biến không tốt, không đúng kỹ th u ật như thức ăn dính bùn, đất hoặc loại quá cứng, lẫn chất 96 ihọn sắc, thức ăn ủ lên men không đúng phương pháp 'quá chua hoặc quá thối mốc.) * Phương p h á p cho ăn k h ô n g tốt: Số’lần cho ăn tro n g ngày, giờ giấc cho ăn, cho ăn quá nhiều một lúc, cho ăn Ịuá ít, thay đổi quá đột ngột từ thức ăn khô sang thức in xanh non nhiều nước (đầu mùa xuân). * P h ố i hợp k h ẩ u phần thức ăn k h ô n g hợ p lý: Thiếu :hất dinh dưỡng, thiếu chất khoáng, thiếu sinh tô', hoặc :hất lượng những thứ đó không tốt, hoặc tỷ lệ những thứ đó không hợp lý. v ề tỷ lệ cho ăn không hợp lý đáng :hú ý nhất là giữa thức ăn tinh (nhất là thức ăn có ỉạm) và thức ăn thô, tỷ lệ giữa chất lân và chất vôi.
Cũng cần chú ý thêm là cây cỏ mọc trên những đất thiếu lân, thiếu vôi hay thiếu những chất khác thì trong những cây cỏ ấy cũng thiếu những chất ấy; khi định khẩu phần mà không bổ sung những chất thiếu ấy thì sau khi ăn một thòi gian dài, súc vật sẽ sinh bệnh. * Cho ăn không đủ lượng thức ăn có nhiều nưốc: rhiếu nước, thức ăn quá khô, trâu bò khó nhai lại, sự tiê u h o á sẽ k h ó k h ă n. Do sự c h ế b iế n v à p h ố i hợp th ứ c ă n k h ô n g hợp lý, có thể làm cho sự tiêu hoá và trao đổi vật chất của cơ thể gia súc m ấ t b ìn h th ư ờ n g , sứ c đ ề k h á n g c ủ a cơ th ể gia 3ÚC giảm sút, tỷ lệ súc vật mắc các bệnh mãn tính cao, sức sản xuất của gia súc sút kém. * Thức ăn ủ lên men không đứng cách thành quá chua sinh bệnh đi ỉa chảy, làm cho lợn gầy đi.
Sang mùa đông khô hanh đột ngột thả trâu bò ra bãi cỏ n o n m ù a x u â n , sú c v ậ t ă n th a m q u á n h iề u n h ấ t là ă n 97 cỏ ướt sương, sinh bệnh trướng hơi. Phải thay đổi chế độ ăn từ từ trước khi th ả chăn những ngày đầu, cho ăn lót dạ một ít rơm cỏ khô hoặc cho uông nước pha muôi. - Lợn cho ăn thiếu chất khoáng sinh bệnh mềm xương, còi xương, n h ất là không được vận động ngoài ánh sáng. - T râu bò ăn thức ăn quá khô, uổng nước thiếu sinh bệnh nghẽn dạ lá sách.
Những loại cây cỏ độc Những cây cỏ độc mọc với những cây cỏ khác ngoài bãi cổ. Do bản năng súc vật thường tránh được những cây có gai, có lông nhọn, có mùi khó chịu, có vị đắng. Nhưng cũng có khi chúng ăn phải cỏ độc không phân biệt được do: - Đói quá, ăn ham quá. - Bãi chăn có quá nhiều cỏ độc lẫn vào.
Đề phòng cho súc vật khỏi ăn phải cỏ độc, phải kiểm tra luôn luôn bãi cỏ, nếu có cỏ độc thì nhổ đi. Ngoài ra, phải chú ý: - Cho uống nước đầy đủ: Sau khi bị trúng độc cho súc vật uổng nhiều nước, có th ể giảm được tác hại. - Thường xuyên cho ăn muối: Gia súc thiếu muối thưòng m ất khẩu vị bình thường, ăn nhầm phải cây cỏ độc. Nếu bị trúng độc, muôi cũng giúp làm cho chất độc dễ thải ra.
- Khi chăn không nên đuổi gia súc chạy gấp quá, để cho nó có thì giò phản biệt được cỏ độc khi gặm cỏ. Một sô’ loại thức ăn khác cũng có chất độc cần phải chú ý, khoai tây mọc mầm, khô dầu bông, đậu mèo.Tiêu chuẩn vệ sinh của các loại thức ăn a. Cỏ tươi - Cỏ phải không có gai, nếu cỏ có lông cứng và sắc, có ;hể làm bị thương niêm mạc, miệng, dạ dày của gia súc. - Cỏ phải có mùi vị n g o n , thơm, không có vị đ ắ n g hay chát.
- Cỏ không được ướt sương, lẫn bùn đất, cát hoặc tiấp hơi. - Cỏ không được lấy ỏ những bãi cỏ đã biết là nhiễm Dệnh vi trùng (nhiệt thán) hay bệnh ký sinh trùng (giun ỉũa, sán lá gan). Cỏ khô Cỏ có độc hay có hại trong cỏ khô không được quá 1%; cỏ độc trong mỗi bó không được quá 200gam, cỏ có hại không được quá 500gam. - Cỏ khô thu hoạch và bảo quản tốt thì có màu xanh nhạt, nếu bị nước mưa thì màu thâm, xám xịt.
- Cỏ khô tốt có mùi thơm ngon, không có lẫn vật thôi lá t hay nhiều bụi bẩn. Có thể ngửi để xác định, nếu cỏ :ó mùi thốỉ là đã để quá lâu ở chỗ hấp hơi, nếu có mùi nốc, tức là có nấm. cỏ khô cắt ở chỗ bùn lầy mà không rửa sạch thì có mùi bùn, ngoài ra cỏ lại cứng và thô. cỏ íhô đã cắt ở chỗ bùn lầy thường thiếu chất khoáng, ihất là phốtpho và canxi.
Những thứ cỏ quá cứng trưốc ĩhi cho ăn, nên đun nóng hay nhúng nước sôi. - Cỏ khô không được mủn, trong đống cỏ khô lớp nào ẩm thì bỏ ra không dùng. R ơm - Phải có mùi vị thơm ngon. Nếu có m ùi thốỉ, mùi mốc, mùi hăng hay mùi hôi, hoặc đã m ủn th ì giá trị kém, rơm không được quá ẩm.
Các loại củ - Những loại củ đã hà, thối thì không cho gia súc ăn nếu hà thối ít thi cắt bỏ chỗ ấy đi rồi đem n ấu chín. - Phải rửa th ậ t cẩn th ậ n cho sạch bùn, sỏi, đất. - Cho trâ u bò ăn củ (khoai lang) phải th ái, nếu không nuốt vội vàng có th ể bị tắc thực quản. Các lom hạt - H ạt ngũ cốc phải rắn, chắc và có m àu tươi sáng, nếu m àu tối hoặc trắng, hoặc có vết lấm chấm là h ạ t đã cũ, nếu h ạt bị sâu, nấm th ì m àu cũng tôì lại - H ạt tốt thì có mùi thơm, không có vị đắng.
- H ạt ngũ cốc có th ể chia th àn h 4 cấp: H ạt chắc mẩy, h ạ t chắc vừa, h ạ t lép, h ạ t xấu. H ạt lép th ì khi cho vào nưổc nổi lên trên. Hiện nay, để tậ n dụng p h ế phẩm , ta thường dùng thóc lép cho súc vật ăn, nhưng riêng đối với lợn phải tá n th àn h bột, vì lợn không tiêu hoá được vỏ h ạ t nguyên. Cám N hận xét phẩm chất cám phải căn cứ vào sô' lượng những thứ pha tạp (cám nhiều hay ít bổi, trấu) độ ẩm, độ tươi, mùi vị.
Cám tươi, mới thì mùi vị bình thường, cám cũ thì ủng, chua, ẩm, đắng, vón cục. Hiện nay, người ta thường dùng loại cám đã ép thành dầu để nuôi lợn. Loại cám này phải bảo quản trán h ẩm, mốc và khi cho ăn phải ngâm mềm, nấu nhừ.