CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VẺ TỎ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CỘNG LẬP 1.1 Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập 1.1 Khái niệm và đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập 1.1 Khải niệm: Theo Giáo trình “Kế toán đơn vị sự nghiệp” trường đại học Thương mại, đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vị do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư, thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật” [2014, tr16] Theo Điều 2 nghị định 16/2015/NĐ- CP của Chính phủ ban hành ngày 14/02/2015 “Quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập”,“đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” Theo Điều 9 Luật Viên chức (58/2010/QH12), đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thâm quyền của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. Các khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập được đưa ra đều có sự tương đồng. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, khái niệm “đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thâm quyển của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định.” Như vậy, đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vị do Nhà nước thành lập một cách hợp pháp phục vụ quản lý Nhà nước. Mục tiêu là cung cấp các dịch vụ công cho xã hội.
Nguồn kinh phí hoạt động do NSNN cấp toàn bộ hoặc một phần, phần còn lại được lấy thu để bù đắp chi phí. Cơ chế thu, chỉ theo quy định của pháp luật. Đặc điểm a, Đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập Các đơn vị sự nghiệp công lập gồm nhiều hoạt động trong nhiều lĩnh vực với các chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Tuy nhiên, các đơn vị sự nghiệp công lập có đặc điểm hoạt động chung là: Một, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập luôn gắn liền và bị chỉ phối bởi các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, thực thi các chính sách xã hôi của nhà nước.
Đối với nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó được quyền chủ động quyết định các biện pháp thực hiện song thực hiện các hoạt động mang tính tuân thủ. Hai, Hoạt động của các ĐVSNCL không vì mục đích lợi nhuận mà chủ yếu phục vụ lợi ích cộng đồng. Các sản phẩm, dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập tạo ra đều có thể trở thành hàng hóa cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội. Việc cung ứng các hàng hóa này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp sản phẩm dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường. Ba, đối tuong quan ly DVSNCL là các hoạt động của đơn vi, cu thể đó là các hoạt động được nhà nước giao nhiệm vụ hoặt đặt hàng và các hoạt động khác mà đơn vị được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Mỗi ĐVSNCL có quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định; đó là mức độ, khả năng được phép xử sự do pháp luật quy định và được nhà nước bảo vệ và đảm bảo thực hiện. Bốn, sản phâm của các ĐVSNCL là sản phâm mang lại lợi ích có tính bền vững, lâu dài cho xã hội.
10 Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp công lập tạo ra chủ yếu là những sản phẩm, dịch vụ có giá trị về khoa học công nghệ, về tri thức, quy trình công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật, sáng kiến, sáng chế, phát minh, cải tiễn kỹ thuật, văn hóa, đạo đức, xã hội,. Mặt khác sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp công lập chủ yếu là các “hàng hóa công cộng” phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình tái sản xuất xã hội. Năm, tùy theo tính chất, đặc điểm hoạt động, ĐVSNCL có thể tô chức hoạt động dịch vụ nhằm hỗ trợ hoạt động sự nghiệp hoặc thực hiện các mục tiêu với mục đích tích lũy, phát triển, tăng thu để hỗ trợ kinh phí của đơn vị, gián tiếp cân đối cán cân NSNN theo mô hình tách biệt hay kết hợp với hoạt động sự nghiệp; được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự quyết định tổ chức, thực hiện hoạt động. b, Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý và biên chế trong ĐVSNCL Tổ chức bộ máy quản lý của ĐVSNCL được các cơ quan nhà nước cấp trên có thâm quyền phê duyệt và quyết định sao cho phù hợp với loại hình, chức năng, nhiệm vụ được giao của từng ĐVSNCL.
Các ĐVSNCL hoạt động theo cơ chế thủ trưởng, nghĩa là luôn có một người đứng đầu mỗi đơn vị. Người đứng đầu ĐVSNCL được pháp luật trao rất nhiều nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng, quyết định về tài chính, nhân sự, điều hành hoạt động thường xuyên cua don vi. Tùy thuộc vào loại hình, phân cấp và chức năng nhiệm vụ được giao mà các ĐVSNCL có cơ cấu tô chức bộ máy quản lý khác nhau. Mỗi loại hình đơn vị hoạt động khác nhau đều có việc quản lý lao động và tổ chức bộ máy quản lý tại đơn vị khác nhau.
Việc tự chủ tài chính của các đơn vị được quy định tương ứng với từng loại hình ÐVSNCL trên nguyên tắc các đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động cảng nhiều thì mức độ tự chủ càng cao. Tuỳ theo mức độ tự chủ về chỉ phí hoạt động, đối với những công việc cần bố trí lao động thường xuyên, ĐVSNCL được quyền quyết định số lượng biên chế, hình thức tuyển dung, quan ly và sử dụng lao động ở các mức độ khác nhau. Các ĐVSNCL tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư được giao quyền tự chủ như được quyết định số lương 11 người làm việc, được vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước hoặc được hỗ trợ vốn vay. Để đáp ưng được đầy đủ về nhu cầu sử dụng lao động, đơn vị được quyền ký hợp đồng hợp tác, thuê khoán với các tổ chức, cá nhân trong nước đối với những công việc không cần bố trí lao động thường xuyên.còn các ĐVSNCK khác sẽ đề xuất số lượng người làm việc và trình cơ quan chủ quản trực tiếp quyết định trên cơ sở định mức biên chế được giao va ké hoach bién ché don vi xây dựng.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Đề nhận dạng các ÐĐVSNCL nhằm tổ chức, quản lý có hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, cần có sự phân loại các ĐVSNCL.
Tùy thuộc quan điểm, cách tiếp cận hoặc do các yêu cầu của quản lý nhà nước. có thể phân loại các ĐVSNCL theo các cách khác nhau. ° Căn cứ vào mức độ tự đảm bảo chỉ hoạt động từ nguồn thu sự nghiệp (Theo nghị định 16/2015/NĐ- CP của Chính phủ ban hành ngày 14/02/2015), các đơn vị sự nghiệp được chia thành: - Don vi sự nghiệp công tự bảo đảm chỉ thường xuyên và chỉ đầu tư là đơn vị có mức tự bảo đảm chỉ thường xuyên lớn hơn 100% và tự bảo đảm chi dau tư từ nguồn quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, các nguồn vốn vay, nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của phát luật. - Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chỉ thường xuyên là đơn vị có mức tự bảo đảm chỉ thường xuyên lớn hơn hoặc bằng 100% - Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên là đơn vị có mức tự bảo đảm chỉ thường xuyên từ 10% đến 100% - Don vi do Nhà nước bao dam chi thường xuyên là đơn vị có mức tự bảo đảm chỉ thường xuyên 10% trở xuống hoặc đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu.
° Căn cứ theo chủ thê quản lý: - PVSNCL do Trung ương quản lý gồm các Viện hàn lâm, Viện nghiên cứu, Trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ, các bệnh viện, trường đại học do Trung ương quản lý. - ĐVSNCL do địa phương quản lý gồm các Viện, Trung tâm nghiên cứu 12 khoa học công nghệ, Đài truyền hình tỉnh, thành phố, các bệnh viện, trường đại học, cao đẳng do địa phương quản lý. eCăn cứ theo chủ thể quản lý: - ĐVSNCL do Trung ương quản lý gồm các Viện hàn lâm, Viện nghiên cứu, Trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ, các bệnh viện, trường đại học do Trung wong quan ly. - ĐVSNCL do địa phương quản lý gồm các Viện, Trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ, Đài truyền hình tỉnh, thành phố, các bệnh viện, trường đại học, cao đẳng do địa phương quản lý.
e Căn cứ theo phân cấp quản lý tài chính tại don vị sử dung NSNN, don vi su nghiệp công lập được chia thành: Đơn vị dự toán cấp I: La don vi truc tiép nhận dự toán ngân sách hàng năm do Thủ tướng Chính phủ hoặc Uỷ ban nhân dân giao. Chịu trách nhiệm trước Nhà nước về tổ chức, thực hiện công tác kế toán, quyết toán ngân sách của đơn vị và quyết toán ngân sách của đơn vị cấp dưới. Đơn vị dự toán cấp II: Là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp I, được đơn vị dự toán cấp I giao du toán và phân bồ dự toán được giao cho đơn vi dự toán cấp IH, chịu trách nhiệm tô chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới. Don vi dự toán cấp III: Là đơn vị trực tiếp sử đụng ngân sách, được đơn vị dự toán cấp I hoặc cấp II giao dự toán ngân sách, có trách nhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của don vi minh va đơn vị trực thuộc.
Đơn vị cấp dưới của đơn vị dự toán cấp III được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thé, khi chỉ tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán theo quy định.