mở đầu thời kỳ phát minh các thuốc trừ sâu, trừ bệnh có x6ng hoi trong BYTV 14 su kién ding Axit xianhidric (HCN) ngudn gốc sinh học hoặc tác động sinh học, các chất kích thích, try rép vay Aonidiella aurantii har cam (1887). Nam 1889, điều tiết sinh trưởng cây trông, Aseto asenat đồng được dùng trừ sân /epfinotarsa decemedtas Việc lạm dụng thuộc BVTV đã để lại những hậu quả rat xau hại khoai tây; năm 1892, Gipxin (Asenat chì) để trừ sâu ăn quả, cho môi sinh, môi trường, dan đến nhiều chương trình phòng sâu rừng Porihetria dispr. Nữa cuối thê kỷ 19, Cacbon đisulfua chẳng dịch hại của nhiều quốc gia và các tô chức quốc tế dựa (C§;) được dùng để chống chuột đồng và các ô rệp Pluvlloxera vào thuốc hóa học đã bị sụp đồ; tư tưởng sợ hãi, không đám hại nho. Nhưng biện pháp dùng thuốc BVTV lúc này vẫn chưa dùng thuốc BVTV xuất hiện; thậm chí có người cho rằng, không có một vai trò đáng kế trong sản xuất nông nghiệp.
dùng thuộc BVTV trong sản xuất nông nghiệp. * Giai đoạn 2 (Từ đầu thê ký 20 đến năm 1960) Tuy vậy, các loại thuốc BVTV mới có nhiều ưu điểm, an Các thuốc trừ địch hại hữu cơ ra đời, làm thay đổi vai trò toàn hơn đối với môi sinh, môi trường, như thuốc trừ có mới, của biện pháp hóa học trong sắn xuất nông nghiệp. Ceresan - các thuốc trừ sâu nhóm Perethroid tông hợp (1970), các thuốc thuốc trừ nấm thủy ngân hữu cơ đầu tiên (1913); các thuốc trừ sâu bệnh có nguồn gốc sinh học hay tác động sinh học, các trừ nấm lưu huỳnh (1940); rồi đến các nhóm khác. Thuốc tri chất điều tiết sinh trưởng côn trùng và cây trồng vẫn liên tục ra cô còn xuât hiện muộn hơn (những năm 40 của thế kỷ thế ký đời.
Lượng thuốc BVTV được dùng trên thể giới không những 20). Việc phát hiện khả năng điệt côn trùng cua DDT (4am không giảm mà còn tăng lên không ngừng, 1939) đã mở ra cuộc cách mạng của biện pháp dùng thuốc * Giai đoạn 4 (Từ những năm 1980 đến nay) BVTV. Hàng loạt các thuốc trừ sâu ra đời sau đó: Clo hữu cỡ (những năm 1940-1950); các thuốc lân hữu cơ, các thuốc Việc bảo vệ môi trường được quan tâm hơn bao giờ hết, Cacbamat (1945-1950). Lúc này biện pháp dùng thuốc Nhiều loại thuốc BVTV mới, trong đó có nhiều thuốc trừ sâu BVTV bị khai thác ở mức tôi đa, thậm chí người ta còn hy bệnh sinh học, có hiệu quả cao với dịch hại, an toàn với môi vọng, nhờ thuốc BVTV để loại trừ hắn một loài dich hai trường ra đời.
Vai trò của biện pháp dùng thuốc BVTV đã được trong một vùng rộng lớn. Từ cuối những năm 1950, những hậu quá xâu của thuốc Từ những năm 1980 đến nay, là thời kỳ phát minh nhiều BVTTV gầy ra cho con người, môi simh và môi trường được phát loại thuốc trừ sâu, bệnh, có đại có nguồn gốc mới, trong đó chú hiện, Khái niệm phòng trừ tổng hợp sâu bệnh ra đời. ý nhiều các chất sinh học. Đây cũng là thời kỹ quan điểm quản 10 lý dịch hại tổng hợp (Integrated pest management, IPM) duce làm thuộc RVTV.
Khoảng S0% thuộc BV'PV sản xuât ra được phô biển rộng rãi, các thuốc BVTV cũng được phái minh và sứ sử dụng ở các nước phát triên. Tuy vậy, tốc độ sử dụng thuộc dụng theo hướng này, Ngoài hiệu quả phòng trừ dich hai, tinh an BVTYV ở các nước đang phat trién tang 7 - 8%/năm, nhanh hơn ớ toàn của thuốc BVTV ngày càng được chú ý nhiều hơn. Tư các nước phát triên 2 -4 %/năm, trong đó chủ yêu là các thuộc tưởng sợ thuộc BVTV cũng bớt dân. trừ sâu chiêm 75%, - Tình hình sản xuất và sứ dụng thuốc BVTV trên thế giới 2.
Lich sw phat triển, tình hình sản xuất và sử dụng thuốc Mặc dù sự phát triển của biện pháp hóa học vẫn có những BVTV ở Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn thăng trầm, song tổng giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới * Giai doan Ì (Trước năm 1957) và số hoại chất tăng lên không ngừng, số chúng loại ngày càng Biện pháp dùng thuốc BVTV hầu như không có vị trí trong phong phú. Nhiều thuốc mới và đạng thuốc mới an toàn hơn với sản xuất nông nghiệp. Một lượng rất nhỏ Sunfat đồng được dùng môi sinh, môi trường, liên tục xuất hiện bất chấp các quy định ở một số đồn điền do người Pháp quản lý để trừ bệnh gỉ sắt cà quản lý ngày càng chặt chẽ của các quốc gia đổi với thuốc phê và Phytophihora cao su và một ft DDT duge ding dé trừ sâu BVTV và kinh phí đầu tư cho nghiên cứu để một loại thuốc mới hại rau. ra đời ngày càng lớn, Trong 10 năm gân đây, tổng lượng thuốc BVTV tiêu thụ có * Giai đoạn 2 (Từ 1957-1990) xu hướng giảm, nhưng giá trị của thuốc tăng không ngừng.
Thời kỳ bao cập. Việc nhập khẩu, quan lý và phần phối thuốc Nguyên nhân là cơ câu thuốc thay đôi: Nhiều loại thuốc cũ, giá BVTV do nhà nước độc quyền thực hiện. Nhà nước nhập roi truc rẻ, dùng với lượng lớn, độc với môi sinh, môi trường được thay tiếp phân phối thuốc cho các tỉnh theo giá bao cấp. Bằng mạng thé dan bang các loại thuốc mới hiệu quả, an toàn và dùng với lưới vật tư nông nghiệp địa phương, thuốc BVTV được phân phối lượng ít hơn, nhưng lai co giá thành cao.
xuống Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp. Ban Quản trị HTX quản lý và giao cho tô BVTTV hướng dẫn xã viên phòng trị dich hại trên Tuy vậy, mức đầu tư về thuốc BVTV và cơ câu tiêu thụ các đồng ruộng. Lượng thuốc BVTV dùng không nhiều, khoáng nhóm thuốc tuỳ thuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác 15.000 tân thành phẩm/ năm với khoảng 20 chúng loại, chủ yêu là của từng nƯỚc, thuốc trừ sâu và thuốc trừ bệnh. Đa phần là các thuốc có độ tôn Chỉ trong thời gian hơn nửa thế ký qua, nhất là từ những lưu lần trong môi trường hay có độ độc cao.
năm 1980 toi nay, cimg với sự phái triển mạnh mẽ của các ngành khoa học công nghệ, thuốc BVTV cùng được phát mình * Giai đoạn 3 (Từ 1990 đến nay) và sử dụng ngày càng nhiều và đã đem lại những lợi ích kinh tế Thị trường thuốc BVTV đã thay đối cơ bản: Nên kinh tế từ to lớn. Tới nay đã có hàng ngàn chất được sáng chê và sử dụng tập trung bao cấp chuyên sang kinh tế thị trường. Các thành II 12 phân kinh tế, đều được phép kinh doanh thuốc BVTV. MỘT SÓ KHÁI NIỆM VE CHAT DOC DUNG LAM hàng phong phú, nhiều chủng loại được cung ứng kịp thời, THUOC BVTV, TAI NGUYEN THUC VAT, DICH HAI, nông dân có điều kiện lựa chọn thuốc, gia ca kha én định có lợi YEU CAU CUA THUOC BVTV, PHAN LOAI THUOC cho nông dân.
Lượng thuốc BVTV tiêu thụ qua các năm déu BVTV tăng. Nhiều loại thuốc mới và các dang thuốc mới, hiệu qua 1. Một số khái niệm hơn, an toàn hơn với môi trường được sử dụng, nhiều thuốc cũ có nhiều nhược điểm đã bị câm sử dung hoặc bị hạn chế sử 1. Chất độc dụng.
Một mạng lưới phân phối thuốc BVTV rộng khắp cá Chất độc là những chất khi xâm nhập vào cơ thê sinh vật nước đã hình thành, việc cung ứng thuốc đến nông dan rat (người, động vật, thực vật, vị sinh vật với liêu tượng nhỏ đã có thuận lợi. Công tác quán lý thuốc BVTV được chú ý đặc biệt thể gây ra những rối loạn về câu trúc hay chức năng làm chậm và đạt được hiệu quả tot. sự sinh trưởng, phát triển, dẫn đến những tốn thất cho cơ thể hoặc có thể gây tử vong. Như vậy, các thuốc BVTV dùng để Trong thời gian này, mối quan hệ quốc tế giữa nước ta với tiêu điệt các loài địch hại đều là những chất độc, kế cả đối với CáC nƯỚC, VỚI CáC tổ chức quốc tế (FAO, WHO, CIRAP).
va người và các động vật khác. các tổ chức trong khu vực vốn có nay càng được đây mạnh va phát huy tác dụng, giúp chúng ta nhanh chóng hội nhập với các 1. Tinh doc nước trong khu vực và trên thê giới. Tính độc (hay độc tính) là một đặc điểm quan trong cha chat Ở nước ta, theo ước tính từ năm 1976 - 1950, bình quân cả độc.
Tính độc của một chât là khả năng gây độc cho cơ thé sinh nước mỗi năm sứ dụng khoảng 5000 tân thuốc BVTV thành vật ở một lượng nhât định của chất độc đó.Việc sử đụng thuốc BVTV ngày 1. Độ độc càng nhiều với lợi ích to lớn được mang lại, tuy nhiên trong Độ độc là biểu hiện mức độ của tính độc, là hiệu Hực độc gây một số trường hợp do lạm dụng, thiêu hiệu biết khi dùng thuốc nên bởi một lượng nhất định của chât độc khi xâm nhập vào cơ BVTV cũng đã thể hiện những hậu quả xâu đổi với con người thê sinh vật. Các chất độc có độ độc khác nhau tùy vào các đặc và môi trường sinh thái, đi ngược lại nỗ lực nhãm xây dựng diém riêng khác nhau, ĐỘ lớn nhỏ và trọng lượng nặng nhẹ của một nền nông nghiệp sạch và bền vững. Sử dụng thuốc BVTV cơ thê sinh vật cũng ảnh hướng nhiêu đên độ độc.
là cần thiết nhưng phải dựa trên cơ sở khoa học và các nguyên Để biêu thị độ độc người ta dùng chỉ tiêu mg chật độc/kg tặc an toàn. trọng lượng cơ thể (mg/kg) hoặc ng chât độc/mg thé trong (uig/mg) (với động vật nhỏ như sâu non), 13 14 1. Liêu lượng độc Bảng 1. Bảng phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại Liều lượng độc là lượng chất độc cần thiết được (tính băng mg (theo quy định của WHO) hay ø) để gây được một tác động nhất định trên cơ thể sinh vật.
Trị số LD50 của thuốc (mg/kg) Nhóm độc Dạng lỏng Dạng rắn Trọng lượng cơ thể lớn hay nhỏ có liên quan chặt chẽ đến Qua miệng Qua da Qua miệng Qua da khả năng gây độc của một chất độc. Đề diễn tả chính xác hơn, Rất độc <20 <40 <5 <10 người ta thể hiện độ độc bằng lượng chất độc cân thiết để gây Độc 20 - 200 40 - 400 5 - 50 10- 100 độc cho một đơn vị trọng lượng cơ thê của sinh vật đó (tính Độc trung bình 200 - 2000 400 - 4000 50 - 500 100 - 1.000 bang ug/g hay mg/kg). Truong hop gap những cá thể sinh vật ít độc >2000 > 4000 > 500 >1.000 nhỏ, có kích thước khá đồng đều nhau, người ta có thể biểu hiện băng Lug/ cá thể (ví dụ: tp chất độc /ong).