Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu về cà tim 1.1 Nguồn gốc Ca tím (Solanum melongena L.) thuộc họ Solanaceae, là một họ lớn của vùng nhiệt đới. Có nhiều ý khiến cho rằng cà tím có nguồn gốc ở châu Phi và Trung Quốc (Tran Khắc Thi, 2011). Ca tím hoang dai là loại quả có gai, có vị đắng, mau cam, nhỏ bằng hạt đậu đã được trồng khắp Ấn Độ và Trung Quốc từ rất sớm, khoảng 500 năm trước công nguyên. Khi các tuyến đường thương mại được mở ra, ca tím được người Ả Rập du nhập vào châu Âu và được người Ba Tư vận chuyên đến châu Phi.
Đầu năm 1900 người Trung Quốc và An Độ đến Mĩ nhập cư và sử dụng cà tím như một loại rau. Cà tím được gọi là “Eggplant” tại Mĩ, Australia và Canada do một số giống ban đầu có màu trắng và trông giống quả trứng gà (Trujilo, 2003). Ngày nay cà tím được trồng ở vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và các vùng ấm của khu vực ôn đới (Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng, 2005).2 Giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng của cay cà tím Quả cà tím cung cấp lượng tinh bột, protein, chất khoáng, vitamin, chất xơ và có hàm lượng chất béo thấp vì thế nó thường được sử dụng phổ biến trong các bữa ăn hằng ngày. Cà tím có thê chế biến thành nhiều món ăn ngon (Nguyễn Thị Hường, 2004).
Cà tim còn được ding dé làm thuốc. Các bài thuốc lợi tiểu, thông mật, đề phòng chứng xơ vữa động mạch (atheroma) do tác dụng chống cholesterol. Dùng rễ cây, cuống ra quả sắc uống để chữa tiểu tiện ra máu, đại tiện ra máu và ly ra máu. Hạt cũng có tác dụng lợi tiểu (Đỗ Tat Lợi, 2004).3 Đặc điểm thực vật học cây cà tím Rễ: Rễ cà tím thuộc rễ cọc, nhưng do phương thức cấy chuyên (ươm cây con trong khay sau đó đem ra trồng, trong quá trình nhé cây con từ khay đem trồng làm cho 3 hệ thống rễ của cà tím bị đứt một phần) nên rễ cọc biến đồi thành hệ rễ gần giống VỚI rễ chùm, giống như rễ cà chua và ớt (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996).
Bộ rễ ca tím rất khỏe, ăn sâu vào đất do đó trong canh tác nên chọn đất tốt, tơi xốp dé thuận lợi cho sự phát triển của bộ rễ (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 2007). Thân: Thân cả tím phân cành mạnh và có tán lá rộng, cây cao từ 0,75 - 2,5 m. Thân có gai, đôi khi không có gai (Đường Hồng Dat, 2002). Vì Thế trong canh tác ca tím cần chú ý khoảng cách trồng phù hợp dé cây có thé phát triển 1 cách tốt nhất.
Lá: Lá cà tím to, đơn giản, chia thùy và mặt dưới nhiều gai. Lá mọc so le nhau, mỗi nách lá thường có một chồi. Tuy thuộc vào vi trí mà chồi có khả năng sinh trưởng và phát triển khác nhau. Chức năng chính của lá là quang hợp, tổng hợp carbohydrate cần thiết cho các hoạt động sinh lý, sinh hóa của cây.
Vì vậy dé cây phát triển tốt can chăm sóc bộ lá khỏe mạnh (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996). Hoa: Hoa đực và hoa lưỡng tính (hoa cái). Cụm hoa dạng xim bọ cạp (có hoa đỉnh lưỡng tính), các hoa còn lại thường là hoa đực) và hoa mọc đơn độc. Bao phan no cùng | lúc với sự tiếp nhận của nhụy do vậy đảm bảo tự thụ, một số có thé bị giao phan bởi côn trùng.
Hoa thường nở từ 7 - 11 giờ sáng, sự tự thụ phan thường xảy ra từ 9 - 10 giờ, việc nở hoa va tung phan tùy thuộc vào độ chiếu sáng ngày dài, nhiệt độ và am độ (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996). Quả: Thuộc loại quả mọng, quả đơn khi chín có màu tím, tím đen, vàng, trăng, xanh, có sọc. Mau đen tia có trong vỏ cà tim là kết quả của sắc tô flavonoid hòa tan trong nước. Quả cà tím cũng có nhiều hình dang bau dục, quả lê.
Thịt quả mềm và giau giá trị dinh dưỡng (Trujillo, 2003). Hạt: Được sinh ra trong giá noãn của thịt quả. Trong quả có rất nhiều hạt, hạt nhỏ, hình tròn va det. Hạt cà tim thường có vỏ mau vàng nhạt, rat cứng và tương đối dày (Nguyễn Thị Hường, 2004).4 Yêu cầu sinh thái Cà tím sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ 25 - 35°C ban ngày, 20 - 27°C ban đêm.
Khả năng chịu nhiệt độ thấp, đặc biệt là sương giá của cả tím thấp hơn cà chua và ớt (trong họ cà). Trái lại, cà tím có thể chịu hạn và úng tốt nhưng khả năng đạu quả sẽ 4 giảm. Cà tím không mẫn cảm với độ dài ngày. Đất trồng ca tím thích ứng là đất thoát nước tốt, pha cát và không cao hơn 800m so với mực nước biển (Trần Khắc Thi, 2011).
Cây cà tím có yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh: Nhiệt độ: Nhiệt độ tối ưu cho họ cà 25 - 35°C (ban ngày), 20 - 27°C (ban đêm). Khả năng chịu nhiệt độ thấp, đặc biệt là sương giá của cà tím thấp hơn cà chua và ớt (Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng, 2005) Ánh sáng: Cây ưa ánh sáng mạnh, ít phản ứng với thời gian chiếu sáng nên có thể ra hoa tạo quả ở nơi có nhiệt độ thích hợp hầu như quanh năm (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 2007). Độ âm: Cà tím có khả năng chịu hạn và lượng mưa cao, nhưng không chịu được dat sũng nước trong một thời gian dài vì độ âm cao kéo dài làm cây dé bị bệnh nam thối rễ. Độ am dat 60 - 80%, độ âm không khí 65 - 75% là thích hợp cho cây sinh trưởng, phát triển (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996).
Tuy cà tím có bộ rễ khỏe, ăn sâu nhưng bộ lá lớn, hệ số tiêu hao nước cao, cây cần đủ độ âm đất (80%) dé dam bảo tỉ lệ đậu quả cao (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 2007).5 Sau và bệnh hai 1.1 Sau * Sâu khoang (Spodoptera litura): Còn được gọi là sâu ăn tạp, gây hại trên nhiều loại rau như ớt, đậu, dưa, cà. Au trùng mới nở sống tập trung quanh 6 trứng gặm nhiều biểu bì lá, ấu trùng tuổi lớn phát tan rộng ra, ăn khuyết phiến lá, dot non, hoa, qua. Au trùng phá hại mạnh vào ban đêm, ban ngày ẩn nap trong tán lá, cỏ dại hoặc trong dat. Điều kiện thuận lới cho sự phát triển: Trồng liên tục các loại rau thuộc cây ký chủ của sâu khoang; phun quá nhiều thuốc trừ sâu hóa học dẫn đến sâu kháng thuốc, giảm số lượng thiên địch.
Biện pháp quản lý: Vệ sinh đồng ruộng, thu gom, tiêu hủy tàn dư cây trồng; cày bừa, phơi đất diét nhộng; dùng bay bả chua ngọt bắt bướm; bảo vệ các loài thiên địch như: Bọ rùa, kiến bộ xít ăn thịt, bọ cánh cứng; ngắt 6 trứng, lá có sâu non mới nở chưa kịp phát tán; phủ đất trồng bằng màng phủ nông nghiệp; khi thay ấu trùng xuất hiện phun thuốc vào sáng sớm hoặc chiều mát bằng các chế phẩm sinh học Bacillus thuringiensis, thảo mộc Rotenone, Azadirachtin hoặc các thuốc có hoạt chất ít độc như Abamectin, Emamectin benzoate. * Sau duc qua (Heliothis armigera Hibiner): Gay hai trén qua, sau sau khi nd vài ngày thi đục vào bên trong quả dé gây hai, do vết đục của sâu nhỏ, lại nằm sát cuống quả nên hơi khó phát hiện. Sau khi đục vào bên trong sâu ăn thành những đường ngắn nghèo trong phần xốp thịt quả, làm cho quả bị hư hỏng, mất giá trị thương phẩm. Khi thấy ấu trùng xuất hiện phun thuốc vào sáng sớm hoặc chiều mát bằng các chế phẩm sinh học Bacillus thuringiensis, thảo mộc Rotenone, Azadirachtin hoặc các thuốc có hoạt chất ít độc như Abamectin, Emamectin benzoate.
* Bọ phan trang (Bemisia tabaci): Bọ phan trang gây hại trên nhiều loại cây trồng như ớt, cà chua, dưa, bầu bí. Chúng chích hút, làm gân lá, lá cây bị vàng, cây can côi, kém phát triển. Chat bài tiết của bọ phan trắng tạo điều kiện cho nam bồ hong phát triển. Là côn trùng môi giới truyền virus gây bệnh xoắn lá.
Điều kiện thuận lợi cho sự phát triển: Gây hại trong mùa khô, phân tán trên phạm vi rộng nhờ gió. Biện pháp quản lý: Vệ sinh đồng ruộng, tỉa bỏ các lá ở gốc tạo sự thông thoáng; tưới đủ âm trong mùa khô; dùng bay dính màu vàng dé thu hút con trưởng thành; sử dụng chế phẩm sinh học như Beauveria bassiana hoặc thuốc có hoạt chất Buprofezin, Pymetrozin kết hợp với dầu khoáng dé diệt bọ phan trắng. * Doi đục lá (Liriomyza spp.) Trưởng thành là một loai ruồi nhỏ có chấm màu vàng gần trên lưng gần phần đầu, kích thức rất nhỏ từ 0,2 - 0,3 mm. Trứng nở thành dòi non đục khoét ăn lớp diệp lục ở giữa 2 mặt lá tạo thành nhũng đường hầm ngoằn nghèo, vòng đời của chúng thường rất ngắn khoảng 2 tuần cho nên mức độ gây hại rất lớn, lứa nọ gối lứa kia chồng chất lên nhau.
Doi đục lá tan công phá hoại từ rất sớm ngay từ khi cây bắt đầu ra lá mầm đầu tiên. Sử dụng thuốc có hoạt chat Abamectin, Cyromazine, Emamectin benzoate.2 Bénh hai * Héo xanh vi khuẩn: Do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra. Thường xảy ra ở giai đoạn mang hoa trái. Cây đang sống sinh trưởng bình thường đột nhiên bị héo trong khi lá vẫn còn xanh.
Ban đêm cây tươi trở lại, sau 2 - 3 ngày cây chết han. Cắt ngang gốc, thân cây có mạch dẫn màu nâu. Điều kiện thuận lợi cho sự phát triển: Âm độ đất cao, nhiệt độ 24°C - 38°C. Vi khuẩn tổn tại trong đất, tàn dư cây trồng, cỏ dai 6 hoặc lan truyền qua cây giống, nhờ nước, côn trùng và công cụ chăm sốc, bam ngọn, tỉa chồi.
Biện pháp quản lý: Luân canh cây trồng, không trồng 2 vụ liên tiếp các loại cây cùng họ; xử lý hạt giống trong nước nóng 50°C trong 25 phút; vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch cỏ dại, nhé bỏ cây bị bệnh và tiêu hủy. Sử dụng phân hữu cơ hoai mục kết hợp với nam Trichoderma dé bón cho cay; khi phat hién bénh phan cac loai thuốc có hoạt chat Kasugamycin, Copper oxychloride. * Kham do virus (Xoăn lá): Khi bị bệnh, cây còi coc, lá hoi cứng, nhỏ, biến dạng nhăn lốm đốm. Bệnh thường xuất hiện trên lá non, làm cây có thé phân hóa nhiều cành, cho ít quả và quả nhỏ.
Bệnh do bọ phan trắng là môi giới truyền bệnh. Điều kiện thuận lợi cho sự phát triển: mật số bọ phan trang cao là do thời tiết nắng ầm, ít mưa. Bệnh lan truyền qua tàn dư cây bệnh, qua hạt giống va qua tiếp xúc cơ học.