Khóa luận tốt nghiệp nông họcảảnh hưởng của lượng phân sinh học và thời điểm thu hoạch đến sinh trưởng năng suất và một số hợp chất thứ cấp có trong cây ngải cứu artemisia vulgaris l trên đất xám bạc màu tại thành phố hồ chí minh

Khóa luận nghiên cứu ảnh hưởng của phân sinh học và thời điểm thu hoạch đến sinh trưởng và năng suất cây ngải cứu tại TP Hồ Chí Minh.

Chuyên ngành

Nông Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2024

101
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sơ lược về cây ngải cứu

1.1.1. Nguồn gốc và phân bố

1.1.2. Phân loại

1.1.3. Đặc điểm thực vật học cây ngải cứu

1.1.4. Yêu cầu sinh thái đối với cây ngải cứu

1.1.5. Thành phần hóa học

1.1.6. Công dụng của cây ngải cứu

1.2. Sơ lược về phân sinh học

1.2.1. Định nghĩa về phân sinh học

1.2.2. Công dụng của phân sinh học

1.3. Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến cây dược liệu

1.4. Một số nghiên cứu về cây ngải cứu, phân sinh học và thời điểm thu hoạch

1.4.1. Một số kết quả nghiên cứu về cây ngải cứu

1.4.2. Một số nghiên cứu về phân sinh học và các thành phần chính có trong phân sinh học

1.4.3. Một số nghiên cứu về thời điểm thu hoạch ảnh hưởng đến cây trồng

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2. Điều kiện thời tiết khu thí nghiệm

2.3. Đặc điểm khu đất thí nghiệm

2.4. Thuốc bảo vệ thực vật và chế phẩm

2.5. Bố trí thí nghiệm

2.6. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

2.6.1. Các chỉ tiêu về sinh trưởng, sâu bệnh

2.6.2. Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa

2.6.3. Các chỉ tiêu về hợp chất thứ cấp

2.6.3.1. Chỉ tiêu hàm lượng flavonoid
2.6.3.2. Chỉ tiêu hàm lượng polyphenol

2.6.4. Yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và hàm lượng tinh dầu

2.6.4.1. Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
2.6.4.2. Hàm lượng tinh dầu và năng suất tinh dầu thực thu

2.6.5. Hiệu quả kinh tế

2.6.6. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Ảnh hưởng của lượng phân sinh học đến sinh trưởng cây ngải cứu

3.1.1. Ảnh hưởng của lượng phân sinh học đến chiều cao cây ngải cứu

3.1.2. Ảnh hưởng của lượng phân sinh học đến số lá trên thân chính cây ngải cứu

3.1.3. Ảnh hưởng của lượng phân sinh học đến đường kính thân cây ngải cứu

3.1.4. Ảnh hưởng của lượng phân sinh học đến số cành cấp một cây ngải cứu

3.1.5. Ảnh hưởng của lượng phân sinh học đến chỉ số diệp lục tố và diện tích lá cây

3.2. Ảnh hưởng của lượng phân sinh học đến tỷ lệ sâu bệnh hại trên cây ngải cứu

3.2.1. Ảnh hưởng của lượng phân sinh học đến tỷ lệ sâu hại cây ngải cứu

3.2.2. Ảnh hưởng của lượng phân sinh học đến tỷ lệ bệnh hại cây ngải cứu

3.3. Ảnh hưởng của lượng phân sinh học và thời điểm thu hoạch đến các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa

3.3.1. Ảnh hưởng của lượng phân sinh học và thời điểm thu hoạch đến hàm lượng flavonoid và polyphenol cây ngải cứu

3.3.2. Ảnh hưởng của lượng phân sinh học và thời điểm thu hoạch đến yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và hàm lượng tinh dầu cây ngải cứu

3.3.2.1. Ảnh hưởng của lượng phân sinh học và thời điểm thu hoạch đến yếu tố cấu thành năng suất cây ngải cứu
3.3.2.2. Ảnh hưởng của liều lượng phân sinh học và thời điểm thu hoạch đến năng suất

3.3.3. Ảnh hưởng của lượng phân sinh học và thời điểm thu hoạch đến hàm lượng tinh dầu và năng suất tinh dầu thực thu

3.4. Lượng toán hiệu quả kinh tế

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Kỹ thuật canh tác áp dụng trong thí nghiệm

Phụ lục 2. Lượng toán hiệu quả kinh tế

Phụ lục 4. Kết quả xử lý số liệu thống kê

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu ảnh hưởng của phân sinh học đến cây ngải cứu

Cây ngải cứu (Artemisia vulgaris L.) là một loại thảo dược quý, được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền và hiện đại. Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định ảnh hưởng của phân sinh họcthời điểm thu hoạch đến sinh trưởng và năng suất của cây ngải cứu tại TP.HCM. Việc sử dụng phân sinh học không chỉ giúp cải thiện năng suất mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng cao.

1.1. Đặc điểm sinh học và ứng dụng của cây ngải cứu

Cây ngải cứu có nhiều ứng dụng trong y học, đặc biệt là trong điều trị các bệnh liên quan đến tiêu hóa và phụ khoa. Hàm lượng tinh dầu và các hợp chất như flavonoid, polyphenol trong cây ngải cứu có tác dụng chống oxy hóa và kháng khuẩn.

1.2. Tầm quan trọng của phân sinh học trong nông nghiệp

Phân sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện độ phì nhiêu của đất và nâng cao năng suất cây trồng. Việc sử dụng phân sinh học giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và tăng cường sức khỏe cho cây trồng.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu cây ngải cứu tại TP

Mặc dù cây ngải cứu có nhiều lợi ích, nhưng việc trồng và thu hoạch cây này tại TP.HCM vẫn gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như điều kiện khí hậu, đất đai và kỹ thuật canh tác ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng cây ngải cứu. Nghiên cứu này nhằm tìm ra giải pháp tối ưu cho việc sử dụng phân sinh học và xác định thời điểm thu hoạch phù hợp.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây ngải cứu

Điều kiện khí hậu và chất lượng đất là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển của cây ngải cứu. Việc lựa chọn thời điểm thu hoạch cũng cần được cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo năng suất tối ưu.

2.2. Thách thức trong việc áp dụng phân sinh học

Mặc dù phân sinh học mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc áp dụng chúng trong thực tiễn vẫn gặp khó khăn do thiếu thông tin và kinh nghiệm từ nông dân. Cần có các chương trình đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật để nâng cao nhận thức về lợi ích của phân sinh học.

III. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của phân sinh học đến cây ngải cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM. Phương pháp thí nghiệm được bố trí theo kiểu lô phụ với các nghiệm thức khác nhau về lượng phân sinh học và thời điểm thu hoạch. Mục tiêu là xác định lượng phân sinh học tối ưu cho cây ngải cứu và thời điểm thu hoạch mang lại năng suất cao nhất.

3.1. Thiết kế thí nghiệm và các nghiệm thức

Thí nghiệm được bố trí với ba mức phân sinh học khác nhau và bốn thời điểm thu hoạch. Mỗi nghiệm thức được lặp lại ba lần để đảm bảo tính chính xác của kết quả.

3.2. Các chỉ tiêu theo dõi trong nghiên cứu

Các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, số lá, đường kính thân và năng suất được theo dõi và ghi nhận trong suốt quá trình nghiên cứu. Ngoài ra, hàm lượng các hợp chất thứ cấp cũng được phân tích để đánh giá chất lượng cây ngải cứu.

IV. Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của phân sinh học đến cây ngải cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng phân sinh học Diamond Grow Humic Acid Granules 99% với lượng 12 kg/ha mang lại hiệu quả tốt nhất cho cây ngải cứu. Cây đạt chiều cao 94,9 cm, số lá 23,7 lá và năng suất cao nhất khi thu hoạch tại thời điểm 10% số cây nở hoa.

4.1. Ảnh hưởng của phân sinh học đến sinh trưởng cây ngải cứu

Sử dụng phân sinh học giúp cải thiện chiều cao cây, số lá và đường kính thân. Kết quả cho thấy cây ngải cứu được bón phân sinh học có khả năng sinh trưởng vượt trội so với cây không được bón.

4.2. Năng suất và chất lượng cây ngải cứu

Năng suất tươi và khô của cây ngải cứu được cải thiện đáng kể khi sử dụng phân sinh học. Hàm lượng tinh dầu và các hợp chất thứ cấp cũng đạt giá trị cao, cho thấy chất lượng sản phẩm tốt hơn.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng phân sinh học và xác định thời điểm thu hoạch phù hợp có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng và năng suất của cây ngải cứu. Kết quả này mở ra hướng đi mới cho việc phát triển bền vững cây ngải cứu tại TP.HCM, đồng thời khuyến khích nông dân áp dụng các phương pháp canh tác thân thiện với môi trường.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy phân sinh học có tác động tích cực đến sinh trưởng và năng suất cây ngải cứu. Thời điểm thu hoạch cũng là yếu tố quan trọng cần được chú ý để đạt được hiệu quả cao nhất.

5.2. Đề xuất cho nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các loại phân sinh học khác và các phương pháp canh tác mới để tối ưu hóa năng suất và chất lượng cây ngải cứu. Hợp tác với nông dân để triển khai các mô hình thực nghiệm cũng là một hướng đi cần thiết.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp nông họcảảnh hưởng của lượng phân sinh học và thời điểm thu hoạch đến sinh trưởng năng suất và một số hợp chất thứ cấp có trong cây ngải cứu artemisia vulgaris l trên đất xám bạc màu tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cây ngai cứu 1.1 Nguồn gốc và phân bố Ngai cứu (Artemisia vulgaris L.) là một loại cây mọc hoang đại, sống lâu năm có nguồn gốc từ vùng ôn đới. Theo Bailcy (1930) ngải cứu có nguồn gốc từ Châu Âu và Châu Á. Ngai cứu vốn được xem như một loại thảo được quý, tuy nhiên ở một số nơi loài cây này lại được xem giống như một loại cỏ đại xâm lắn. Hiện nay ngải cứu đã được trồng và trở nên phổ biến ở các vùng Nam A, Đông Nam A, trong lục địa Châu Phi va Châu Mỹ.

Ở Việt Nam, cây ngải cứu đã được người dân biết đến và sử dụng từ rất lâu đời, cây ngải cứu đã được trồng rộng khắp từ Bắc tới Nam. Đặc biệt cây sinh trưởng và phát triển mạnh ở các tỉnh thành miền núi phía Bắc như Lào Cai (Sa Pa, Mường Khương, Than Uyên); Yên Bái (Mù Cang Chai); Cao Bằng (Trùng Khánh, Bảo Lạc); Lạng Sơn (Vùng Mẫu Son); Lai Châu (Phong Thổ, Sin Hồ, Tuan Giáo, Tua Chùa); Hòa Bình (Mai Châu); Sơn La (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004).2 Phan loại Theo Võ Van Chi (2004), ngải cứu thuộc ngành hat kín (Magnoliophyta), lớp hai lá mầm (Magnoliopsida), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), chi Astemisia L., loài Artemisia vulgris L. là loài có sỐ lượng rất lớn trong họ cúc (Asteraceae). Có trên khoảng 800 giống phô biến trên toàn thé giới.

Nhiều giống Afermisia mọc ở Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á (Viện Dược liệu, 2006). Theo Phạm Hoàng Hộ (2000), nước ta có khoảng 11 loài thuộc chi Artemisia bao gồm có ngải đắng, ngải hoa vàng, thanh hao, ngải lá kim, ngải thơm, ngải đen, ngải cứu rừng, ngải chân vịt, ngải giun, ngải lông lợn, ngải cứu.3 Đặc điểm thực vật học cây ngải cứu Re: Ngai cứu là loại cây có bộ rễ khỏe, ré của cây là rễ coc, phân nhánh phat trién rat nhanh trong điều kiện đất tơi xốp, đủ âm và thoáng khí (Phạm Hoàng Hộ, 2000). Rễ giống ngải cứu cho thấy cây ngải cứu mọc từ hạt có kiêu rễ hình trụ điển hình gồm các phần như chóp rễ, miền sinh trưởng, miền hấp thụ, miền trưởng thành. Khi cây mọc ở đốt thân ngầm bộ rễ phát sinh từ các nét rễ nên các rễ bên sinh trưởng khá đồng đều, rễ chính không còn biểu hiện rõ, các rễ được tập trung ở phan gốc cây (Hoàng Thị Thanh Hà, 2010).

Thân: Theo Võ Văn Chi (2004), hình thái thân cây ngải cứu phụ thuộc vào từng loại giống. Nhìn chung, thân cây ngải cứu là loại thân đứng, đơn trục va dang thân cỏ lâu năm. Bên cạnh đó, ngai cứu là loại cây có thân ngầm sống và phát triển mạnh mẽ quanh năm. Khi kết thúc một giai đoạn sinh trưởng, phần thân trên mặt đất lụi tàn và chết đi và các thân ngâm sẽ mọc thành cây mới.

Theo Hoàng Thị Thanh Hà (2010), ngải cứu chưa trưởng thành có thân cây dạng hình tròn, đến khi trưởng thành thân sẽ có cạnh, số lượng cạnh phụ thuộc vào đặc tính di truyền của mỗi giống. Số cạnh dao động từ 5 — 12 cạnh. Mau sắc thân cây khá đa dạng, có thé là màu xanh, tím tia hoặc nâu. Mau sắc của thân thay đổi theo độ tuổi của đoạn thân, cành, các đoạn thân, cành bánh tẻ có mau xanh phot tím đặc trưng.

Than cây ngải cứu có thé cao từ 0,4 đến 1 m, đường kính thân đạt từ 0,25 đến 1,5 cm. Thân cây già hóa gỗ, phần thân non ở ngọn có màu xanh, thông thường có rất nhiều lông tơ. Khi gap điều kiện thời tiết thuận lợi ngải cứu có khả năng phân nhánh rất mạnh, thường phân nhánh tại các đốt thân nằm trong đất. Lá: Theo Đỗ Tắt Lợi (2006), lá ngải cứu mọc so le, rộng nhưng không có cuống, tuy nhiên những lá phía dưới có thé có cuống, lá xẻ thùy, lông chim, màu lá ở hai mặt rat khác nhau.

Mặt trên nhẫn màu lục sam, mắt dưới có mau trắng tro vì có nhiều lông. Tùy thuộc vào từng giống mà phiến lá xẻ thùy nông hay sâu nhưng nhìn chung phiến lá ngải cứu bị chia cắt rất sâu vào gần hết chiều rộng của nửa phiến lá, có khi đến tận gân chính khiến cho các thùy lá hầu như tách rời hắn nhau. Lá ngải cứu thường tỏa ra mùi thơm nồng vào buổi tối, thường có vị đắng đến rat dang tùy thuộc vào điều kiện thời tiết theo mùa, thường được thu hái khi chưa trổ hoa. Phién lá men theo cuống đến tận gốc, đính vào thân như có be lá, các thùy hình mũi mác hẹp, đầu nhọn.

Những lá ở ngọn có hoa không chẻ, lá trên ngọn có phiến hình dải. Lá trưởng thành có màu xanh đậm, dai 1 - 10 cm, rộng 3 - 7,5 cm. Hoa: Hoa mọc thành cụm thường có từ 15 đến 30 hoa đơn trên một hoa. Màu sắc của hoa ngải cứu chính là màu sắc của tràng hoa trên hoa lưỡng tính.

Hoa ngải cứu thường có màu vàng nhạt hay màu nâu đỏ tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại giống. Cụm hoa hình đầu nhỏ, mọc tập trung thành từng chùm kép ở đầu cành (Hoàng Thị Thanh Hà, 2010). Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2014), cụm hoa mọc ở ngọn thân và đầu cành tạo thành chùm kép mang nhiều đầu nhỏ bao gồm những lá bắc nguyên giống như những vảy có lông; đầu mọc chúc xuống cùng phía, hình trứng cụt, mang hoa cái hoặc hoa lưỡng tính trên cùng một cụm hoặc ở những cụm khác nhau; thường hoa cái chiếm nhiều hơn; hoa không có mào lông; tràng hoa cái có ống mảnh, cụt hoặc có hai răng ở đầu, tràng hoa lưỡng tính hình phễu, có năm thùy uống cong ra phía ngoài. Cây ngải cứu ở giai đoạn trưởng thành nếu gặp điều kiện ánh sáng ngày ngắn sẽ hình thành nụ hoa.

Quả và hạt: Mùa hoa quả: tháng 10 — 12. Quả có màu nâu, dang 6 van dài, kích thước 1 - 2 mm va có một vài lông ở đỉnh quả (Đỗ Huy Bich va ctv, 2004). Theo Ninh Thị Phíp và Nguyễn Thi Thanh Hải (2016), hạt ngai cứu có hình bầu dục, khi chín có màu nâu hoặc nâu đen hay có khi có màu nâu vàng, ranh giới sự khác biệt màu này có thé do điều kiện thời tiết trong thời gian hình thành và chín của hạt, kích thước hạt giống tương đối nhỏ. Hạt ngải cứu có chiều dài dao động trong khoảng 1,20 - 1,52 mm, chiều rộng hạt dao động từ 0,40 - 0,54 mm.4 Yêu cầu sinh thái đối với cây ngải cứu Nhiệt độ: Cây ngải cứu có nguồn gốc ôn đới.

Nhiệt độ trung bình thích hợp cho ngải cứu sinh trưởng và phát triển dao động từ 18 - 22°C. Ở các thời kì nảy mam, mam phát triển và hình thành cây con rất nhạy cảm với nhiệt độ. Nhiệt độ nảy mam tốt trong phạm vi nhiệt độ 20 - 25°C (Halina và ctv, 2020). Lượng mưa và độ âm: Ngải cứu là cây ưa khí hậu ôn hòa, ưa nắng âm và mưa nhiêu.

Trong điêu kiện ánh sáng yêu hoặc trong điều kiện khô han cây vẫn sinh trưởng phát triển được nhưng sẽ cho hiệu quả thấp (Barney và Ditommaso, 2003). Hiện nay, diện tích trồng ngải cứu trên khắp thế giới tập trung chủ yéu ở những vùng có lượng mưa trung bình từ 600 — 1000 mm/năm. Độ am đất thích hợp cho sự sinh trưởng va phát triển của cây ngải cứu là 65 - 75% va độ am không khí từ 75 - 85% (Halina và ctv, 2020). Ánh sáng: Ngải cứu là cây trồng cần lượng ánh sáng trực xạ dé phuc vu cho qua trinh sinh trưởng.

Khi cây hap thu đầy du ánh sáng thì lá sẽ day, lá màu xanh đậm, phân nhánh hình thành hoa hiệu quả, đem đến năng suất cao và chất lượng tốt hơn. Ngải cứu là cây ưa sáng nên chọn chỗ đất trồng có đầy đủ ánh sáng (Barney và Ditommaso, 2003). Đất đai: Theo Barney và Ditommaso (2003), ngải cứu có thé sinh sống trên các loại đất thịt pha cát, đất sét pha cát có pH 5,5 - 6,8 cho đến dat cát, đất thịt, đất sét. Tuy nhiên loại đất thịt nhẹ, đất phù sa, đất đỏ bazan và là loại đất phù hợp đất để ngải cứu sinh trưởng.

Độ cao: Trên thế gidi, ngai cứu có thể chịu được biên độ dao động độ cao rất lớn, loại cây này có thể sống được ở những vùng lạnh có độ cao trên 3700 m ở Bắc Hymalaya, cho đến những vùng ấm hơn ở Nam Mỹ (Holm và ctv, 1997). Chỉ có hai nơi trên thế giới không có sự xuất hiện cây này là Châu Phi và Antaritica. Điều đó cho thấy rằng cây ngải cứu thích nghi rộng (V6 Văn Chi, 2004).5 Thành phần hóa học Trên thế giới, một nghiên cứu đã phân lập được trong lá ngải cứu có hơn 20 flavonoid được biết đến và xác định là jaceosidine, eupafolin, chrysoeriol, diosmetin, homoeriodictyol, isorhamnetin, apigenin, eriodictyol, luteolin, luteolin 7 - glucoside, kaempferol 3 glucoside, quercetin 3 - glucoside, kaempferol 3 - glucoside, kaempferol 7 - rhamnoside, kaempferol 3 - rutinoside, quercetin 3 - galactoside, quercetrin, rutin va vitexin. Các chat nay là những flavonoid có hoạt tính mạnh, có tác dụng chống viêm, làm giảm sự tăng trưởng của tế bào gây chết (Sang và ctv, 1998).

Theo Radulovic và ctv (2021), thành phần hóa học có trong tinh dầu thu được từ than lá và rễ của cây ngải cứu có sự khác nhau. Các hợp chất chính trong tinh dau chiết xuất từ rễ cây ngải cứu bao gồm neryl 2-methylbutanoate (13,2%), B-eudesmol (10.4%), và bornyl 3-methylbutanoate (8,45%). Phần rễ của cây ngải cứu còn chứa số hợp chất quý hiếm thuộc nhóm sesquiterpenoids. Ngược lại, trong tinh dau chiết xuất từ các bộ phận thân lá của ngải cứu, không phát hiện thấy sesquiterpenoids ba vòng.

Các hợp chất chiếm ưu thé được xác định bao gồm có 1,8-cineole (28,9%), sabinene (13,7%), B- thujone (13,5%) và B-caryophyllene oxit (6,5%).6 Công dụng của cây ngải cứu Trong ẩm thực: Ngải cứu một loại cây quen thuộc gần gũi với con người Việt Nam. Ngải cứu được dùng làm thực pham trong các món ăn hàng ngày đem lại một giá trị lớn đóng vai trò là nguồn dược liệu cho con người (Đỗ Tắt Lợi, 2006). 7 Ngai cứu được đánh giá cao làm gia vị vì mùi thơm, vi đắng của cây và vị cay ngọt của rễ. Lá và nụ được thu hái ngay trước khi ra hoa được sử dụng làm chất phụ gia có vị đắng cho các món ăn ở Châu A (Erel va ctv, 2011).

Trong y học: Ở Trung Quốc, ngải cứu theo truyền thống được sử dụng để điều trị tình trạng xuất huyết, máu trong dom, phân va chảy máu cam. Tinh dau của loài này được sử dụng như một loại thuốc thảo được phổ biến có tên là “Ai Hao” và được kê đơn dé chữa vết loét và tiêu chảy (Barney và Ditommaso, 2003).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng của phân sinh học và thời điểm thu hoạch đến cây ngải cứu tại TP.HCM" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà phân sinh học và thời điểm thu hoạch có thể tác động đến sự phát triển và năng suất của cây ngải cứu. Nghiên cứu này không chỉ giúp nông dân tại TP.HCM tối ưu hóa quy trình canh tác mà còn mở ra cơ hội cho việc áp dụng các phương pháp canh tác bền vững hơn. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách lựa chọn phân bón phù hợp và thời điểm thu hoạch lý tưởng để đạt được hiệu quả cao nhất.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức của mình về các nghiên cứu liên quan đến nông nghiệp, hãy tham khảo thêm tài liệu Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của liều lượng phân bón kẽm sunfat đến sinh trưởng năng suất và hàm lượng tinh dầu của cây hương nhu tía, nơi bạn có thể tìm hiểu về ảnh hưởng của phân bón đến cây trồng trong điều kiện đô thị. Bên cạnh đó, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của phân bón lá sinh học đến khả năng nảy mầm và sinh trưởng cây con của cây cà chua sẽ cung cấp thêm thông tin về việc sử dụng phân bón sinh học trong canh tác. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của liều lượng phân đạm kali đến sinh trưởng phát triển và năng suất cà tím để hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của các loại phân bón khác nhau đến năng suất cây trồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng.