Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cây ngai cứu 1.1 Nguồn gốc và phân bố Ngai cứu (Artemisia vulgaris L.) là một loại cây mọc hoang đại, sống lâu năm có nguồn gốc từ vùng ôn đới. Theo Bailcy (1930) ngải cứu có nguồn gốc từ Châu Âu và Châu Á. Ngai cứu vốn được xem như một loại thảo được quý, tuy nhiên ở một số nơi loài cây này lại được xem giống như một loại cỏ đại xâm lắn. Hiện nay ngải cứu đã được trồng và trở nên phổ biến ở các vùng Nam A, Đông Nam A, trong lục địa Châu Phi va Châu Mỹ.
Ở Việt Nam, cây ngải cứu đã được người dân biết đến và sử dụng từ rất lâu đời, cây ngải cứu đã được trồng rộng khắp từ Bắc tới Nam. Đặc biệt cây sinh trưởng và phát triển mạnh ở các tỉnh thành miền núi phía Bắc như Lào Cai (Sa Pa, Mường Khương, Than Uyên); Yên Bái (Mù Cang Chai); Cao Bằng (Trùng Khánh, Bảo Lạc); Lạng Sơn (Vùng Mẫu Son); Lai Châu (Phong Thổ, Sin Hồ, Tuan Giáo, Tua Chùa); Hòa Bình (Mai Châu); Sơn La (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004).2 Phan loại Theo Võ Van Chi (2004), ngải cứu thuộc ngành hat kín (Magnoliophyta), lớp hai lá mầm (Magnoliopsida), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), chi Astemisia L., loài Artemisia vulgris L. là loài có sỐ lượng rất lớn trong họ cúc (Asteraceae). Có trên khoảng 800 giống phô biến trên toàn thé giới.
Nhiều giống Afermisia mọc ở Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á (Viện Dược liệu, 2006). Theo Phạm Hoàng Hộ (2000), nước ta có khoảng 11 loài thuộc chi Artemisia bao gồm có ngải đắng, ngải hoa vàng, thanh hao, ngải lá kim, ngải thơm, ngải đen, ngải cứu rừng, ngải chân vịt, ngải giun, ngải lông lợn, ngải cứu.3 Đặc điểm thực vật học cây ngải cứu Re: Ngai cứu là loại cây có bộ rễ khỏe, ré của cây là rễ coc, phân nhánh phat trién rat nhanh trong điều kiện đất tơi xốp, đủ âm và thoáng khí (Phạm Hoàng Hộ, 2000). Rễ giống ngải cứu cho thấy cây ngải cứu mọc từ hạt có kiêu rễ hình trụ điển hình gồm các phần như chóp rễ, miền sinh trưởng, miền hấp thụ, miền trưởng thành. Khi cây mọc ở đốt thân ngầm bộ rễ phát sinh từ các nét rễ nên các rễ bên sinh trưởng khá đồng đều, rễ chính không còn biểu hiện rõ, các rễ được tập trung ở phan gốc cây (Hoàng Thị Thanh Hà, 2010).
Thân: Theo Võ Văn Chi (2004), hình thái thân cây ngải cứu phụ thuộc vào từng loại giống. Nhìn chung, thân cây ngải cứu là loại thân đứng, đơn trục va dang thân cỏ lâu năm. Bên cạnh đó, ngai cứu là loại cây có thân ngầm sống và phát triển mạnh mẽ quanh năm. Khi kết thúc một giai đoạn sinh trưởng, phần thân trên mặt đất lụi tàn và chết đi và các thân ngâm sẽ mọc thành cây mới.
Theo Hoàng Thị Thanh Hà (2010), ngải cứu chưa trưởng thành có thân cây dạng hình tròn, đến khi trưởng thành thân sẽ có cạnh, số lượng cạnh phụ thuộc vào đặc tính di truyền của mỗi giống. Số cạnh dao động từ 5 — 12 cạnh. Mau sắc thân cây khá đa dạng, có thé là màu xanh, tím tia hoặc nâu. Mau sắc của thân thay đổi theo độ tuổi của đoạn thân, cành, các đoạn thân, cành bánh tẻ có mau xanh phot tím đặc trưng.
Than cây ngải cứu có thé cao từ 0,4 đến 1 m, đường kính thân đạt từ 0,25 đến 1,5 cm. Thân cây già hóa gỗ, phần thân non ở ngọn có màu xanh, thông thường có rất nhiều lông tơ. Khi gap điều kiện thời tiết thuận lợi ngải cứu có khả năng phân nhánh rất mạnh, thường phân nhánh tại các đốt thân nằm trong đất. Lá: Theo Đỗ Tắt Lợi (2006), lá ngải cứu mọc so le, rộng nhưng không có cuống, tuy nhiên những lá phía dưới có thé có cuống, lá xẻ thùy, lông chim, màu lá ở hai mặt rat khác nhau.
Mặt trên nhẫn màu lục sam, mắt dưới có mau trắng tro vì có nhiều lông. Tùy thuộc vào từng giống mà phiến lá xẻ thùy nông hay sâu nhưng nhìn chung phiến lá ngải cứu bị chia cắt rất sâu vào gần hết chiều rộng của nửa phiến lá, có khi đến tận gân chính khiến cho các thùy lá hầu như tách rời hắn nhau. Lá ngải cứu thường tỏa ra mùi thơm nồng vào buổi tối, thường có vị đắng đến rat dang tùy thuộc vào điều kiện thời tiết theo mùa, thường được thu hái khi chưa trổ hoa. Phién lá men theo cuống đến tận gốc, đính vào thân như có be lá, các thùy hình mũi mác hẹp, đầu nhọn.
Những lá ở ngọn có hoa không chẻ, lá trên ngọn có phiến hình dải. Lá trưởng thành có màu xanh đậm, dai 1 - 10 cm, rộng 3 - 7,5 cm. Hoa: Hoa mọc thành cụm thường có từ 15 đến 30 hoa đơn trên một hoa. Màu sắc của hoa ngải cứu chính là màu sắc của tràng hoa trên hoa lưỡng tính.
Hoa ngải cứu thường có màu vàng nhạt hay màu nâu đỏ tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại giống. Cụm hoa hình đầu nhỏ, mọc tập trung thành từng chùm kép ở đầu cành (Hoàng Thị Thanh Hà, 2010). Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2014), cụm hoa mọc ở ngọn thân và đầu cành tạo thành chùm kép mang nhiều đầu nhỏ bao gồm những lá bắc nguyên giống như những vảy có lông; đầu mọc chúc xuống cùng phía, hình trứng cụt, mang hoa cái hoặc hoa lưỡng tính trên cùng một cụm hoặc ở những cụm khác nhau; thường hoa cái chiếm nhiều hơn; hoa không có mào lông; tràng hoa cái có ống mảnh, cụt hoặc có hai răng ở đầu, tràng hoa lưỡng tính hình phễu, có năm thùy uống cong ra phía ngoài. Cây ngải cứu ở giai đoạn trưởng thành nếu gặp điều kiện ánh sáng ngày ngắn sẽ hình thành nụ hoa.
Quả và hạt: Mùa hoa quả: tháng 10 — 12. Quả có màu nâu, dang 6 van dài, kích thước 1 - 2 mm va có một vài lông ở đỉnh quả (Đỗ Huy Bich va ctv, 2004). Theo Ninh Thị Phíp và Nguyễn Thi Thanh Hải (2016), hạt ngai cứu có hình bầu dục, khi chín có màu nâu hoặc nâu đen hay có khi có màu nâu vàng, ranh giới sự khác biệt màu này có thé do điều kiện thời tiết trong thời gian hình thành và chín của hạt, kích thước hạt giống tương đối nhỏ. Hạt ngải cứu có chiều dài dao động trong khoảng 1,20 - 1,52 mm, chiều rộng hạt dao động từ 0,40 - 0,54 mm.4 Yêu cầu sinh thái đối với cây ngải cứu Nhiệt độ: Cây ngải cứu có nguồn gốc ôn đới.
Nhiệt độ trung bình thích hợp cho ngải cứu sinh trưởng và phát triển dao động từ 18 - 22°C. Ở các thời kì nảy mam, mam phát triển và hình thành cây con rất nhạy cảm với nhiệt độ. Nhiệt độ nảy mam tốt trong phạm vi nhiệt độ 20 - 25°C (Halina và ctv, 2020). Lượng mưa và độ âm: Ngải cứu là cây ưa khí hậu ôn hòa, ưa nắng âm và mưa nhiêu.
Trong điêu kiện ánh sáng yêu hoặc trong điều kiện khô han cây vẫn sinh trưởng phát triển được nhưng sẽ cho hiệu quả thấp (Barney và Ditommaso, 2003). Hiện nay, diện tích trồng ngải cứu trên khắp thế giới tập trung chủ yéu ở những vùng có lượng mưa trung bình từ 600 — 1000 mm/năm. Độ am đất thích hợp cho sự sinh trưởng va phát triển của cây ngải cứu là 65 - 75% va độ am không khí từ 75 - 85% (Halina và ctv, 2020). Ánh sáng: Ngải cứu là cây trồng cần lượng ánh sáng trực xạ dé phuc vu cho qua trinh sinh trưởng.
Khi cây hap thu đầy du ánh sáng thì lá sẽ day, lá màu xanh đậm, phân nhánh hình thành hoa hiệu quả, đem đến năng suất cao và chất lượng tốt hơn. Ngải cứu là cây ưa sáng nên chọn chỗ đất trồng có đầy đủ ánh sáng (Barney và Ditommaso, 2003). Đất đai: Theo Barney và Ditommaso (2003), ngải cứu có thé sinh sống trên các loại đất thịt pha cát, đất sét pha cát có pH 5,5 - 6,8 cho đến dat cát, đất thịt, đất sét. Tuy nhiên loại đất thịt nhẹ, đất phù sa, đất đỏ bazan và là loại đất phù hợp đất để ngải cứu sinh trưởng.
Độ cao: Trên thế gidi, ngai cứu có thể chịu được biên độ dao động độ cao rất lớn, loại cây này có thể sống được ở những vùng lạnh có độ cao trên 3700 m ở Bắc Hymalaya, cho đến những vùng ấm hơn ở Nam Mỹ (Holm và ctv, 1997). Chỉ có hai nơi trên thế giới không có sự xuất hiện cây này là Châu Phi và Antaritica. Điều đó cho thấy rằng cây ngải cứu thích nghi rộng (V6 Văn Chi, 2004).5 Thành phần hóa học Trên thế giới, một nghiên cứu đã phân lập được trong lá ngải cứu có hơn 20 flavonoid được biết đến và xác định là jaceosidine, eupafolin, chrysoeriol, diosmetin, homoeriodictyol, isorhamnetin, apigenin, eriodictyol, luteolin, luteolin 7 - glucoside, kaempferol 3 glucoside, quercetin 3 - glucoside, kaempferol 3 - glucoside, kaempferol 7 - rhamnoside, kaempferol 3 - rutinoside, quercetin 3 - galactoside, quercetrin, rutin va vitexin. Các chat nay là những flavonoid có hoạt tính mạnh, có tác dụng chống viêm, làm giảm sự tăng trưởng của tế bào gây chết (Sang và ctv, 1998).
Theo Radulovic và ctv (2021), thành phần hóa học có trong tinh dầu thu được từ than lá và rễ của cây ngải cứu có sự khác nhau. Các hợp chất chính trong tinh dau chiết xuất từ rễ cây ngải cứu bao gồm neryl 2-methylbutanoate (13,2%), B-eudesmol (10.4%), và bornyl 3-methylbutanoate (8,45%). Phần rễ của cây ngải cứu còn chứa số hợp chất quý hiếm thuộc nhóm sesquiterpenoids. Ngược lại, trong tinh dau chiết xuất từ các bộ phận thân lá của ngải cứu, không phát hiện thấy sesquiterpenoids ba vòng.
Các hợp chất chiếm ưu thé được xác định bao gồm có 1,8-cineole (28,9%), sabinene (13,7%), B- thujone (13,5%) và B-caryophyllene oxit (6,5%).6 Công dụng của cây ngải cứu Trong ẩm thực: Ngải cứu một loại cây quen thuộc gần gũi với con người Việt Nam. Ngải cứu được dùng làm thực pham trong các món ăn hàng ngày đem lại một giá trị lớn đóng vai trò là nguồn dược liệu cho con người (Đỗ Tắt Lợi, 2006). 7 Ngai cứu được đánh giá cao làm gia vị vì mùi thơm, vi đắng của cây và vị cay ngọt của rễ. Lá và nụ được thu hái ngay trước khi ra hoa được sử dụng làm chất phụ gia có vị đắng cho các món ăn ở Châu A (Erel va ctv, 2011).
Trong y học: Ở Trung Quốc, ngải cứu theo truyền thống được sử dụng để điều trị tình trạng xuất huyết, máu trong dom, phân va chảy máu cam. Tinh dau của loài này được sử dụng như một loại thuốc thảo được phổ biến có tên là “Ai Hao” và được kê đơn dé chữa vết loét và tiêu chảy (Barney và Ditommaso, 2003).