Chương 1 TONG QUAN TÀI LIEU 1.1 Giới thiệu về cây hương nhu tia 1.1 Nguồn gốc và phân bố Theo Datiles và Acevedo (2014) cây hương nhu tía thuộc: Bộ (Order): Lamiales Ho (Family): Lamiaceae Chi (Genus): Ocimum Loai: Ocimum tenuiflorum L. Hương nhu tia tên khoa hoc: Ocimum tenuiflorum L., tên đồng nghĩa Ocimum sanctum L., là một loài thuộc họ hoa môi (Labiatae), có nguồn gốc ở Nam Phi, được biết đến rộng rãi nhờ các đặc tính y học và được trồng nhiều quốc gia: vùng nhiệt đới của châu Á như Philippines và Indonesia, các nước châu Phi và các đảo Caribbean, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Trung Quốc, Lào Thái Lan (Viện Dược liệu, 2006; Cohen, 2014; Kew, 2014). Chi Ocimum đã được phat hiện mọc hoang dai ngoai tự nhiên và được trồng cách đây hàng nghìn năm, phô biến nhất ở các vùng như Địa Trung Hải, khu vực Nam A va trong một số tôn giáo như An Độ giáo. Thực vật phổ biến trong chi này như: loài Ocimum basilicum L.
(Cây hing qué), loài Ocimum gratissimum L. (Cây hương nhu trang), loài Ocimum sanctum L. O Viét Nam, cây hương nhu moc hoang dai ở một số địa phương như Quảng Ninh, Hà Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Cửu Long. Hiện nay, hương nhu tía được trồng nhiều trên cả nước với diện tích nhỏ ở một số tỉnh, ngoại thành Hà Nội, Hòa Bình, Bắc Giang, Ninh Bình đến Khánh Hòa, Ninh Thuận ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang (Nguyễn Thạch Bích và ctv, 1975; Viện Dược liệu, 2006).
Theo Cây thuốc quý Hòa Bình (2022), cây hương nhu ở nước ta trồng 2 loại: hương nhu tia (ocimum sanctum L.) và hương nhu trắng (Ocimum gratissimum L.), các đặc điểm phân biệt của 2 loại cây này: Cây hương nhu tía: Cây có kích thước nhỏ hơn nhiều so với hương nhu trắng, bởi hương nhu tia thường chỉ cao khoảng 60 cm, trong khi đó hương nhu trắng có cây cao đến 2 m. Lá hương nhu tía khá nhỏ. Cây hương nhu trắng: Kích thước to lớn hơn nhiều, có thể gấp đôi thậm chí gấp 3 đến 4 lần cây hương nhu tía. Lá hương nhu trắng cũng to bản hơn, có thê to gấp đến 3 lần hương nhu tía.
Cả hai loại hương nhu đều có công dụng như nhau nhưng hương nhu tía được đánh giá có hiệu quả điều trị bệnh tốt hơn so với cây hương nhu trắng.2 Đặc điểm thực vật học Rễ: dạng rễ cọc, có nhiều rễ con trên tầng đất mặt, khả năng chịu ung của rễ kém. Theo khuyến cáo TNAU (2021), khi làm đất cần cày bừa khoảng 30 cm dé giúp rễ phát triên tôt. Thân: dạng thân bụi có thê cao đên 2 m, mọc thăng và phân nhánh nhiêu, thân và cành đêu màu đỏ tía và có lông mịn, có khả năng tái sinh cao nên có thê thu nhiêu lân trong năm và thu nhiều năm (Viện Dược liệu, 2006; Đỗ Tắt Lợi, 2004). Lá: màu xanh tía hay tía đậm, lá đơn, mọc đối, lá rộng hình elip, mép lá có khía rang cưa thưa, dài 2 — 5 cm, rộng 1 — 3 cm, mặt dưới mau tia nhạt hơn mặt trên, nhiều lông mỊn ở hai mặt lá (Viện Dược liệu, 2006).
Hoa: hoa lưỡng tính, màu tím hoặc trắng, dang hình ống và có 2 thùy (thùy trên hình mắt chim, thùy dưới hình giùi dài hơn) xếp thành từng chùm (5 —6 hoa)/cum hoa (dai 15 — 20 cm, cum hoa mọc ở đầu cành và có phân nhánh, có lá bắc dưới cụm hoa, tràng hoa có cánh lượn sóng ở mép (Viện Dược liệu, 2006). Sau khi ra hoa và hình thành hạt cây sẽ sử dụng các chất có trong cây đề hình thành hạt có thê làm giảm hàm lượng tỉnh đầu trong cây. Hạt: giống hình bầu dục, nhỏ, nhẫn, có đốm đen nhỏ, màu nâu nhạt (Viện Dược liệu, 2006). Hạt cho vào nước hạt sẽ hút nước tạo thành mảng nhay trang bao boc quanh hat giúp tăng kha năng phân tán và ti lệ mọc mam của hạt.3 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh Nhiệt độ: cây có thể phát triển nhiều điều kiện khí hậu khác nhau, thích hợp nhất ở vùng vùng khí hậu nhiệt đới như ở nước ta, nhiệt độ thích hợp nhất cho cây phát triển từ 25 — 30°C, cây có thể chịu được nhiệt độ trên 35°C, nhưng khả năng chịu lạnh kém.
Ngày dài và nhiệt độ cao thuận lợi hơn cho sự phát triển và hàm lượng tinh dầu trong cây (Viện Dược liệu, 2006; TNAU, 2021). Ánh sáng: cây ưa ánh sáng trực xạ, phát triển tốt khi trồng ngoài trời nên khi mọc ở noi ít nắng, thời gian sinh trưởng của cây kéo dai (Nguyễn Thạch Bich và ctv, 1975). Nước: cây hương nhu tía có khả năng chịu úng kém, cân tạo rãnh thoát nước và cung cấp lượng nước phù hợp dé cây phát triển tốt (TNAU, 2021) Đất: cây sẽ phát triển ở nhiều loại đất khác nhau từ giàu đến nghèo dinh dưỡng, có khả năng chịu mặn vừa phải, chịu được độ pH từ kiềm đến chua vừa phải, khả năng chịu úng của cây kém nên cần đất thoát nước tốt (TNAU, 2021).4 Công dụng của cây hương nhu tía Theo Vinod va ctv (2010), hoa, quả, lá, va hau hết mọi bộ phận của cây đều được sử dụng làm thuốc với nhiều công dụng: long đờm, giảm đau, chống ung thư, chống hen suyen, chong nôn, ra mô hôi, chong tiểu đường, bảo vệ gan, hạ huyết áp, ha lipid máu. Nước sắc từ lá được sử dụng để chống lại bệnh viêm dạ dày, trị cảm lạnh và hạ sốt hiệu quả, nước ép từ lá tươi của cây hương nhu tía cũng được sử dụng để điều trị bệnh kiết ly.
Ngoài ra nước ép từ lá còn được pha cùng với triphala được sử dụng như một loại thuốc bổ mat va được khuyên dùng cho bệnh tăng nhãn áp, đục thủy tinh thể, viêm kết mạc mãn tính và các bệnh khác liên quan đến mắt (Vinod và ctv, 2010). Ngăn ngừa bệnh ung thư, các hoạt chất có trong hương nhu tía không chỉ có ích với việc giải độc trong cơ thể còn có khả năng làm giảm tôn thương trên DNA và làm cho các tế bao ung thư và tiền ung thư mat dần, hương nhu tia chứa các chất cảm ứng proapoptotic và có thể được sử dụng như một tác nhân chống ung thư (Siddique và ctv, 2007; Manaharan, 2016). Nhiều thử nghiệm trên động vật và con người đã cho thay loài hương nhu tia có tác dụng tương đương với diazema (thuốc trị bệnh tram cảm), giúp tăng cường trí nhớ, cải thiện giấc ngủ và chống lại sự suy giảm trí nhớ do lão hóa (Cohen, 2014). Bột lá hương nhu tia dé đắp lên vết thương giúp chống nhiễm trùng, uống giúp loại bỏ giun và ký sinh trùng ở đường ruột, bột lá hương nhu tia kết hợp với lá neem làm giảm các triệu chứng tiểu đường, giảm mức đường huyết ở bệnh nhân tiêu đường loại 2, hỗ trợ điều trị và phòng ngừa bệnh tiểu đường (Pushpangadan va Bradu, 1995; Kochhar và ctv, 2009).
Một số bài thuốc chữa bệnh có hương nhu tía trong y học dân gian: Chữa cảm sốt, nhức đầu, đau bụng, chân tay lạnh: hương nhu tía (500g), hậu phác (tâm gừng nướng) (200g), bạch biến đậu (sao) 2kg. Tat cả thái nhỏ, trộn đều, mỗi lần uống 10g (có khi đến 20g) với nước sôi dé nguội. Chữa cảm, làm ra mô hôi, giúp hạ sôt: hương nhu, hoặc hương, bạc hà, sả, tía tô, lá bưởi, lá chanh mỗi thứ 10g. Tất cả rửa sạch, đun sôi rồi dùng dé xông hơi Phòng, chữa cảm nắng, say nắng: lá hương nhu 32g, hạt đậu ván 32g, củ sắn dây 24g, gừng sống 12g.
Tất cả phơi khô, tán nhỏ, rây thành bột mịn. Mỗi lần người lớn dùng 16g, trẻ em 8g, hãm với nước sôi, gan uống (Nguyễn Liên, 2018) Ngoài được sử dụng làm thuốc, hương nhu tía còn được sử dụng như một loại rau trong chế biến thực phẩm, trồng quanh nhà dé trang trí và đuôi côn trùng, phơi khô làm trà, chiết suất tinh dầu lam nguyên liệu cho sản xuất nước hoa, thuốc, và nhiều sản phẩm khác mang lại giá trị kinh tế cao 1.5 Tỉnh dầu hương nhu tía Tinh dầu là hỗn hợp của nhiều hợp chất bay hơi, có mùi thơm đặc trưng tùy theo loại cây, tinh dau của hương nhu tia có mùi thơm đặc trưng và có màu vàng nhạt với thành phần chính là eugenol (45 — 70%), methyleugenol (trên 12%) và B — caryophylen, (Viện Dược liệu, 2006; Đỗ Tất Lợi, 2004). Theo Ahmed và ctv (2022), thành phan chính trong tinh dầu hương nhu tia: B — bisabolene (13 — 20%), methyl chavicol (3 — 19%), 1,8 — cineole (9 — 33%), eugenol (4 9%), (E) — a — bisabolene (4 — 7%) và a — terpineol (1,7 — 7%). Theo Võ Thị Thanh Tuyền và Nguyễn Thị Mỹ Biên (2019), tỉnh dầu hương nhu tia Việt Nam có hàm lượng là 0,61% cao hơn so với Ấn Độ (0,45%) va Úc (0,57%), hàm lượng tinh dầu và thành phan các hoạt chat trong cây cũng thay đối tùy theo khí hau, thé nhưỡng, kỹ thuật chiết suất tinh dau.1 Khái niệm về phân bón lá Theo Nghị định số 113/2003/QDCP ngày 07/10/2003, phân bón lá là các loại phân bón được tưới hoặc phun trực tiếp vào lá hoặc thân dé cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua lá.
Theo Nguyễn Xuân Trường và ctv (2003), phân bón lá là phân bón chuyên dùng dé hòa nước và phun trên lá cây trồng nhằm bồ sung dinh dưỡng cho cây.2 Cơ chế hấp thu dinh dưỡng qua lá Theo Tuấn Anh (2015), phân bón lá được hấp thu qua khe hở của lớp sáp và khí không trên bề mặt lá, số lượng khí không trên bề mặt lá rất nhiều tùy theo loài từ khoảng 100 đến vài nghìn khí khéng/mm2. Sự xâm nhập của chất dinh dưỡng vào không bào: các không bào rất quan trọng dé chứa các chất dinh dưỡng trước khi chúng hấp thu vào bên trong từng tế bào. Các chất dinh dưỡng sẽ vào những không bảo này sau khi xâm nhập từ bên ngoài qua lớp biểu bì lá cũng như được hấp thu từ rễ qua các mao mach trong thân cây Sự hấp thu dinh dưỡng vào bên trong tế bào: những nguyên tắc chung về việc hấp thu chất dinh dưỡng khoáng từ các không bào vào bên trong từng tế bào lá cũng như sự hấp thu từ rễ. Sự hấp thu này có thé được điều khiển thông qua tinh trạng dinh dưỡng của cây trông.3 Vai trò và của kẽm và lưu huỳnh đến cây trồng 1.1 Vai trò của kẽm đối với cây trồng Kẽm tham gia đồng hóa cacbon, tích lũy saccarit, loại bỏ các gốc oxy phản ứng, và sử dung carbon trong quá trình sinh tổng hợp dầu dé bay hơi như estragol, linalool, eugenol, methyl chavicol, kích thích cây san xuất IAA, sinh tổng hợp chất diệp lục và cần thiết dé tổng hợp DNA, RNA va protein (Hussein và ctv, 2010).