Mở đầu Khởi động Kiến thức mới Khám phá Luyện tập Luyện tập Vận dụng Vận dụng Chương trình môn Đạo đức lớp 5 quy định ba mạch nội dung: Giáo dục đạo đức, Giáo dục kĩ năng sống, Giáo dục kinh tế. Các cụm bài cũng được phân chia một cách tương đối theo các mạch nội dung đó. Trên cơ sở cấu trúc bài học chung gồm 4 giai đoạn trên đây, GV căn cứ vào đặc thù của từng cụm bài, khai thác nội dung sách giáo khoa và tổ chức hoạt động dạy học phù hợp để đạt hiệu quả giáo dục tốt hơn. Cấu trúc bài học bám sát tiến trình nhận thức của HS theo từng mạch nội dung, chú trọng đến việc khai thác kinh nghiệm, khởi tạo cảm xúc, tăng cường tính trải nghiệm, thực hành, vận dụng kĩ năng,.
từ đó thúc đẩy động cơ học tập, hành động thực tiễn của HS; giúp HS nhận định rõ các giá trị, chuẩn mực, hành vi,. hình thành động cơ mà biểu hiện ra bên ngoài bằng sự lựa chọn thực hiện những hành động cụ thể phù hợp với chuẩn mực xã hội. Từ cấu trúc bài học này, nhóm tác giả xây dựng nên các bài học phù hợp với các mục tiêu giáo dục đạo đức và giáo dục kĩ năng sống, giáo dục kinh tế, giáo dục pháp luật, đảm bảo được đặc trưng của môn Đạo đức nhằm điều chỉnh hành vi của học sinh phù hợp với các giá trị, chuẩn mực xã hội. Với cấu trúc như trên, các bài học đạo đức từng bước hình thành năng lực tư duy phản biện về các hành vi đạo đức và không đạo đức – một trong những năng lực chưa được quan tâm nhiều trong giáo dục đạo đức hiện nay.
Các bài học đạo đức dựa theo quy trình đó khiến việc học tập, thực hành và vận dụng kiến thức trở nên gần gũi, thú vị với HS mà không làm giảm đi ý nghĩa khoa học của môn học. Các cấu trúc bài học này đều được thử nghiệm ngoài thực tế lớp học và cho thấy hiệu quả giáo dục cao. Căn cứ xây dựng các bài học * Căn cứ vào Mục tiêu và yêu cầu cần đạt của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và Chương trình môn Đạo đức; 10 * Căn cứ vào các lí thuyết về sự phát triển tâm lí trẻ em, trên cơ sở đó nghiên cứu các đặc điểm về nhận thức, tình cảm, nhân cách của học sinh lớp 5. Tổng hợp các quan điểm về sự phát triển tâm lí trẻ em, đặc biệt là tâm lí của học sinh lớp 5, có thể khái quát lại một số đặc trưng cần lưu ý để nhóm tác giả biên soạn sách giáo khoa này: – Về sự phát triển nhận thức: + Tri giác ở học sinh tiểu học thường bắt đầu với hành động trực quan, đến cuối tuổi cấp tiểu học là lớp 5, thì tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật, hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn và lúc này tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng.
Có thể dựa vào đặc điểm phát triển này để tìm cách thu hút trẻ tham gia các hoạt động tích cực từ hình ảnh, màu sắc được thiết kế trong sách giáo khoa Đạo đức 5. Những hoạt động, ngữ liệu đa dạng sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác. + Tư duy của học sinh tiểu học chủ yếu là tư duy trực quan hành động ở đầu cấp và phát triển dần thành tư duy trực quan hình ảnh ở giai đoạn giữa, mang đậm màu sắc xúc cảm. Khả năng khái quát hoá tiến bộ dần từ trẻ lớp 1 đến lớp 5, theo đó, trẻ lớp 5 bắt đầu biết khái quát hoá lí luận.
Đây là tiền đề cho sự phát triển tư duy logic, tuy nhiên ở lớp 5, tư duy trực quan hình ảnh vẫn chiếm ưu thế. + Hình ảnh tưởng tượng của học sinh lớp 1 còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi, nhưng đến những năm cuối tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện. Từ những hình ảnh cũ, trẻ đã tái tạo ra được những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo cũng tương đối phát triển, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,.
Đây là cơ sở để thiết kế các hoạt động Khởi động, Khám phá, Luyện tập, Vận dụng phù hợp hơn với khả năng của học sinh lớp 5. + Đầu giai đoạn tiểu học, trẻ chủ yếu ghi nhớ máy móc. Đến khi bước vào lớp 5 và lớp 5, trẻ bắt đầu ghi nhớ có ý nghĩa và lượng tri thức trẻ nhớ được gia tăng. Đây là giai đoạn tâm lí học sinh tiểu học mà việc ghi nhớ có chủ định đã phát triển.
Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào mức độ tích cực tập trung, sự hứng thú và sức hấp dẫn của nội dung tài liệu,… + Nếu như đầu cấp học sinh tiểu học có sự chú ý thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán thì đến giai đoạn cuối của tâm lí học sinh tiểu học, trẻ có khả năng điều chỉnh sự chú ý của mình, chú ý có chủ định dần phát triển hơn. Trẻ biết cố gắng và có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập, có khả năng tiếp nhận 11 câu chuyện dài hơn, bài thơ nhiều câu chữ hơn, tình huống đa dạng tình tiết hơn so với học sinh lớp 1, 2, 3, 4. + Đến lớp 5, học sinh đã thành thạo ngôn ngữ viết và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau.
– Về sự phát triển tình cảm: Đến lớp 5, các mối quan hệ bạn bè của trẻ được mở rộng, trẻ dễ chia sẻ và chơi thân với các bạn của mình, ra sức giúp đỡ bạn; bên cạnh đó, trẻ cũng dễ giận dỗi, mâu thuẫn với bạn bè rồi sau đó cũng nhanh chóng làm lành với bạn. Sự phát triển tình cảm trong tâm lí trẻ em tiểu học luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu như: thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học,. Tâm lí trẻ em tiểu học được phát triển và từng ngày hoàn thiện trên nhiều khía cạnh. Trẻ cũng chững chạc dần và học hỏi nhiều điều thú vị từ thế giới xung quanh mình, đồng thời khám phá nhiều khả năng, năng khiếu của bản thân trong nhiều hoạt động.
Đây là cơ sở để đưa các nội dung tích hợp để phát triển năng khiếu cho học sinh bên cạnh năng lực chung, năng lực đặc thù. – Về sự phát triển nhân cách: + Đến lớp 5, những nét tính cách học đường mới dần ổn định và bền vững ở trẻ. Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau: nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt, vì thế nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình. Giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 5 không nên định hình hay có những định kiến mà luôn thiện ý, phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi mở và chờ đợi, phải hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp thông qua các tấm gương từ các nhân vật trong sách giáo khoa, hình mẫu của người lớn (bố mẹ, thầy cô, hàng xóm,…) để trẻ noi gương.
* Căn cứ vào các lí thuyết Tâm lí học, Giáo dục học về đạo đức và quá trình hình thành hành vi đạo đức. 12 Theo Tâm lí học giáo dục đạo đức (nhiều tác giả), hành vi đạo đức thường được hình thành dựa trên các nhóm yếu tố tâm lí bao gồm: tri thức và niềm tin đạo đức, thiện chí, nghị lực và thói quen đạo đức. Mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lí cấu thành hành vi đạo đức: + Tri thức đạo đức là yếu tố định hướng hành vi đạo đức. Nhờ có tri thức đạo đức, cá nhân biết mình nên hay không nên làm gì.
Niềm tin, tình cảm, động cơ và thiện chí đạo đức là yếu tố phát động mọi sức mạnh vật chất và tinh thần, tạo ra sự sẵn sàng thực hiện hành vi đạo đức. Có tri thức, có niềm tin, tình cảm, động cơ và thiện chí đạo đức là có ý thức đạo đức. Tuy nhiên, giữa ý thức với hành vi đạo đức luôn tồn tại một khoảng cách nhất định. Yếu tố giúp xoá bỏ khoảng cách này chính là thói quen đạo đức.
Nói cách khác, thói quen đạo đức là yếu tố thể hiện thực hoá sẵn sàng đạo đức cá nhân. + Theo Tâm lí học giáo dục đạo đức, có các con đường hình thành hành vi đạo đức cho học sinh như sau: cơ chế bắt chước, cơ chế củng cố và học tập xã hội. * Căn cứ vào các lí thuyết về sự phát triển phẩm chất, năng lực cho cá nhân. Theo Tâm lí học hoạt động, sự hình thành và phát triển của nhân cách chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố cơ bản, đóng vai trò quan trọng như: bẩm sinh – di truyền; hoàn cảnh sống; giáo dục; hoạt động và giao tiếp.
Trong các yếu tố đó, giáo dục đóng vai trò chủ đạo vì nó vạch ra chiều hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh và dẫn dắt sự hình thành, phát triển nhân cách của học sinh theo chiều hướng đó. Giáo dục có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lí xấu do tác động tự phát của môi trường xã hội gây nên và làm cho nó phát triển theo chiều hướng mong muốn của xã hội. Tính tích cực khi tham gia vào hoạt động và giao tiếp sẽ quyết định trực tiếp đến sự hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cá nhân.