Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho giáo viên tiểu học. - Chương 2: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 cho GV ở các trường tiểu học huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. - Chương 3: Biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 cho GV ở các trường Tiểu học huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM THEO CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Bàn về vấn đề tổ chức hoạt động trải nghiệm và bồi dưỡng năng lực tổ chức HĐTN được nhiều tác giả ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng quan tâm nghiên cứu. Ở thế kỷ XX, nhà tâm lý học Liên Xô L.Vưgôtxki (1896 -1934) đã chỉ ra rằng: Trong công tác giáo dục, trong mỗi nhà trường, một lớp học cụ thể cần coi trọng sự khám phá có trợ giúp hơn là sự tự khám phá. Ông cho rằng, sự khuyến khích của giáo viên bằng ngôn ngữ cùng với sự cộng tác của các bạn cùng tuổi trong học tập là rất quan trọng [36].
Nhà giáo dục Xô Viết của thế kỷ XX T. Ilina đi sâu nghiên cứu và chỉ ra rằng; công tác quản lý các hoạt động trải nghiệm với mục đích bổ sung và làm sâu hơn công tác giáo dục nội khóa; trước tiên, nó là phương tiện để phát hiện đầy đủ năng lực học sinh, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của các em đối với hoạt động nào đó và cũng là hình th ức tổ chức giải trí cho các em, là cơ sở để quản lý việc thực tập về hành vi đạo đức để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này [26]. Với nền giáo dục Anh quốc, học tập trải nghiệm đã trở thành một trong những chương trình hoạt động giáo dục được các nhà trường đặc biệt chú trọng. Có nhiều trung tâm giáo dục trải nghiệm cho học sinh đã được thành lập và một trong những trung tâm được đánh giá cao của giáo dục ngoài trời là trung tâm Wide Horizon (Chân trời rộng mở) được thành lập 2004.
Trong môi trường này, các em sẽ được tham gia hàng loạt các hoạt động ngoài trời từ tổ chức trải nghiệm thiên nhiên cho học sinh Tiểu học đến các hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm cho thanh thiếu niên. Nhiều hoạt động liên kết với các chủ đề của chương trình và phù hợp với mục đích, đối tượng học tập, góp phần “làm cho các môn học chính giàu có thêm và giúp cho học sinh hứng thú học tập hơn” [39]. 12 Việc thiết lập trang mạng nhằm trợ giúp những HS có những sáng tạo làm quen với nghề nghiệp. Học sinh gửi hồ sơ sáng tạo (dự án) của mình vào trang mạng này, thu thập thêm những hiểu biết từ đây; mỗi HS nhận được khoản tiền nhỏ để thực hiện dự án của mình là dự án được triển khai tại Hà Lan [39].
Còn với giáo dục Nhật Bản, luôn tôn chỉ “Coi trọng việc nuôi dưỡng cho trẻ năng lực ứng phó với sự thay đổi của xã hội, hình thành cho trẻ một cơ sở vững chắc để khuyến khích trẻ sáng tạo” [39]. Nhằm đáp ứng được mục tiêu là “giúp mỗi công dân phát triển cá tính và những kĩ năng cần thiết cho cuộc sống của một công dân độc lập dưới ánh sáng của tư tưởng nhân đạo và tinh thần trách nhiệm vì sự phồn thịnh của đất nước và nhân loại” tại Hàn Quốc, các hoạt động trải nghiệm không tách rời hệ thống các môn học trong nhà trường mà có quan hệ tương tác, bổ trợ nhau để hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, kĩ năng sống và năng lực cần có trong xã hội hiện đại [4]. Hội đồng giáo dục nghệ thuật tại Singapore cũng luôn chú trọng thực hiện; “Chương trình giáo dục nghệ thuật, cung cấp, tài trợ cho các nhà trường phổ thông toàn bộ chương trình của các nhóm nghệ thuật, những kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật…” [39]. Bên cạnh đó, nhiều tác giả với nghiên cứu về vấn đề năng lực và bồi dưỡng, phát triển năng lực cũng được luận giải ở các góc nhìn khác nhau: Bàn về tính định lượng của năng lực, Howard Gardner cho rằng: “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được” [38].
Theo Joe Bolger - Tư vấn của Cơ quan phát triển quốc tế Canada, trong bài “Phát triển năng lực - Tại sao, Phát triển cái gì và Phát triển như thế nào”, năng lực được hiểu là “khả năng, kỹ năng, sự hiểu biết, thái độ, các giá trị, các mối quan hệ, hành vi, động lực, nguồn lực và điều kiện cho phép các cá nhân, tổ chức, ngành nghề và hệ thống xã hội rộng lớn hơn để thực hiện các chức năng và đạt được mục tiêu phát triển của họ theo thời gian”. Theo tác giả, phát triển năng lực bao gồm nhiều “phương pháp tiếp cận và chiến lược” nhằm cải 13 thiện khả năng ở các mức độ khác nhau, không có một phương pháp chung duy nhất để phát triển năng lực. Mục tiêu của phát triển năng lực là nhằm: tăng cường, hoặc sử dụng một cách hiệu quả hơn các kỹ năng, khả năng và các nguồn lực; tăng cường sự hiểu biết và mối quan hệ; định hướng các giá trị, thái độ, động cơ và điều kiện để hỗ trợ phát triển bền vững [40]. Như vậy, có thể thấy, nghiên cứu của các nhà tâm lí học, các nhà giáo dục học, cũng như mô hình học tập trải nghiệm mà các nước trên thế giới đang tiến hành đều khẳng định rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm và năng lực tổ chức trải nghiệm trong việc hình thành và phát triển năng lực học sinh.
Do đó, trên đây là những kinh nghiệm quý báu để chọn lọc, vận dụng phù hợp vào bối cảnh Việt Nam nhằm đổi mới giáo dục nói chung, giáo dục qua trải nghiệm nói riêng theo hướng phát triển năng lực người học đáp ứng yêu cầu mới. Những nghiên cứu ở Việt Nam Tại Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu về lí luận giáo dục cũng đề cập đến vấn đề tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm và bồi dưỡng năng lực tổ chức HĐTN cho giáo viên phổ thông. Theo tác giả Phạm Minh Hạc, thông qua mỗi hoạt động của chính cá nhân, bản thân mới được hình thành và phát triển. Trong học tập và giáo dục, rèn luyện, việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, lĩnh hội các giá trị xã hội là hoạt động của chính người học.
Sự tự lực, tự giác hoạt động thì mới có thể biến kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được thành tri thức của bản thân ông cho rằng “Thông qua hoạt động không chỉ rèn luyện trí thông minh, mà còn thu hẹp sự “cưỡng bức” của nhà giáo thành sự hợp tác bậc cao” [14]. Tại hội thảo khoa học “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh phổ thông và mô hình phổ thông gắn với sản xuất kinh doanh tại địa phương” (2014) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã thu hút rất nhiều bài viết của các tác giả trong cả nước. Trong báo cáo “Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới”, tác giả Lê Huy 14 Hoàng có đề cập tới quan niệm về hoạt động trải nghiệm là “Hoạt động mang tính xã hội, thực tiễn đến với môi trường giáo dục trong nhà trường để học sinh tự trải nghiệm trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện được phẩm chất, năng lực; nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê; bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị; nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân; bổ trợ cho và cùng với các hoạt động dạy học trong chương trình giáo dục thực hiện tốt nhất mục tiêu giáo dục” [6]. Trong nghiên cứu “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo - Góc nhìn từ lí thuyết “học từ trải nghiệm” tác giả Đinh Thị Kim Thoa có đề cập đến sự khác biệt giữa học đi đôi với hành, học thông qua làm và học từ trải nghiệm, đã chỉ ra mô hình và chu trình học từ trải nghiệm của David Kolb‟s, từ đó vận dụng vào việc dạy học và giáo dục trong nhà trường.
Cùng với bài viết “Mục tiêu năng lực, nội dung chương trình, cách đánh giá trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo”, tác giả Đinh Thị Kim Thoa cũng đã xác định mục tiêu, đề xuất nội dung, các tiêu chí đánh giá năng lực hoạt động trải nghiệm của học sinh phổ thông [27]. Với bài luận “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo - kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam” tác giả Đỗ Ngọc Thống đã giới thiệu kinh nghiệm tổ chức hoạt động trải nghiệm trong giáo dục phổ thông nước một số quốc gia như Hàn Quốc, Anh quốc. Đó đều là những quốc gia đã đưa hoạt động trải nghiệm vào chương trình đào tạo từ sớm và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Từ đó tác giả đưa ra nhận định: “Trước nay, trong chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam đã có hoạt động giáo dục nhưng chưa được chú ý đúng mức; chưa hiểu đúng vị trí, vai trò và tính chất của các hoạt động giáo dục.
Chưa xây dựng được một chương trình hoạt động giáo dục đa dạng, phong phú và chi tiết với đầy đủ các thành tố của một chương trình giáo dục. Chưa thực sự có hình thức đánh giá và sử dụng kết quả các hoạt động giáo dục một cách phù hợp” [29]. Với nghiên cứu về “Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông” - tác giả Bùi Ngọc Diệp đã đưa ra quan niệm về hoạt động trải nghiệm trong nhà trường phổ thông “là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của HS về hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, 15 văn hóa nghệ thuật, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, khoa học kĩ thuật, lao động công ích,. để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách thực sự, phát triển và nuôi dưỡng óc sáng tạo; là một bộ phận hữu cơ của hệ thống hoạt động giáo dục ở trường phổ thông”.