Chương I NGUỔN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỦA NGHỀ NUÔI DÊ I. N G U Ồ N G Ố C, S ự P H Â N B ố V À PH Â N L O Ạ I Đ Ộ N G VẬT H Ọ C Dê là gia súc nhai lại nhỏ thuộc loài Dê {Capra), họ phụ Dê Cừu (Caprarovanae), họ Sừng rồng {Bovidae), bộ phụ Nhai lại (,Ruminantia), bộ Guốc chẵn {Artiodactyta) lớp Có vú {Manmalian). Dê rừng (Capra aegagrus) trên thế giới được chia làm ba nhóm: nhóm 1 là Bezoar (C. aegagrus), nhóm này có sừng hình xoắn (Hình ỉ.
Nhóm 2 là Ibex (C. ibex) và nhóm 3 là Markhor (C. falconeri) nhóm này dê thường có sừng quặn về phía sau (Hình 1. Dê rừng phân bố rộng ở vùng núi và bán sơn địa, phạm vi phân bố tự nhiên của H ình ỉ.
Các kiểu sừng dê 1. b: Sùng quặn về phía sau 9 nhóm Bezoar là ở vùng Tây Á. Nhóm Ibex phân bố ở vùng Tây Á, Đông Châu Phi và Châu Âu. Nhóm Markhor phân bố ở Apganixtan và vùng Kasơmia - Karakorum (Harris, 1962).
Với những dẫn liệu đặc biệt tìm thấy được gần đây, người ta đã cho là nơi thuần hoá các giống dê đầu tiên bắt nguồn từ Châu Á (Devendrá và Nozawa, 1976). Vào thiên niên kỉ thứ 7-9 trước công nguyên, tại vùng núi Tây Á lần đầu tiên người ta đã thuần hoá được dê (Herre 1958, Harris 1962, Zenner 1963, Epsteiin 1971, Kamo 1973). Theo tài liệu của Herre và Robrs 1973 thì dê là vật được thuần hoá nuôi sớm nhất của loài người và sau đó là đến chó (Zeuner 1963). Giống như các vật nuôi khác, sau khi thuần hoá, đầu tiên dê được nuôi với mục đích lấy thịt; sau đó nuôi dê để lấy sữa cũng được con người tiến hành sớm nhất, thậm chí còn sớm hơn cả bò lấy sữa, bởi lẽ vắt sữa dê đơn giản hơn nhiều so với vắt sữa bò.
Dê có 60 nhiễm sắc thể (cừu chỉ có 54). Trung tâm nuôi dê cổ nhất là ở các nước Trung Đông, sau đó đến Ân Độ rồi đến Ai Cập, tiếp đến là các nước phương Tây, Châu Á, Châu Phi, trung tâm mới nhất là ở Đông Nam Châu Á. Dê là một trong những động vật được thuần dưỡng sớm, và hiện nay dê được nuôi phổ biến khắp hành tinh của chúng ta. Điều đó không chỉ nói lên lợi ích của con dê mà còn nói lên tính thích nghi kì diệu của nó.
VAI TR Ò C H Ă N N U Ô I D Ê Ở CÁC NUỔC Đ A N G PH Á T TR IEN Mahatma Gandí, lãnh tụ nổi tiếng của Ân Độ đã nói về vai trò của dê là “Dê sữa là con bò sữa của nhà nghèo". Dê sữa đã góp 10 phần đáng kể vào cuộc cách mạng trắng ở An Độ. Hơn thế nữa, Peacok còn cho rằng: "Dê sữa là nhà hăng cho những người nghèo (ngân hàng của người nghèo)”. Acharay, Chủ tịch Hội nuôi dê Thế giới còn bổ sung thêm là: “Dí5 sữa chính là cơ quan bảo hiểm đáng tin cậy của người nghèo".
Hơn 90% tổng số dê trên thế giới được chăn nuôi ở các nước đang phát triển và đã mang lại thu nhập có ý nghĩa cho người dân. Tuy nhiên, cũng có những ý kiến khác nhau về phát triển chăn nuôi dê, do đó ở Việt Nam nghề nuôi dê chậm phát triển. Những điều có lọi của nghề chăn nuôi dê Chăn nuôi dê yêu cầu vốn đầu tư ban đầu ít hơn so với nuôi bò, nhất là bò sữa. Hiện nay ở Việt Nam giá một con bò sữa trung bình là 10-12 triệu đồng, số tiền này có thể mua được 15-20 con dê sữa và khoảng 30 con dê thịt giống nội.
Dê sinh sản nhanh hơn bò và trâu: So sánh một con dê cái mói sinh cùng với một con bê cái sau 4 nãm thì dê đẻ ra được 23 con với tổng khối lượng là 500kg và 2500kg sữa; trong khi đó một con bò chỉ đẻ ra được một con với khối lượng khoảng 350kg và 2000kg sữa.Nếu là dê thịt thì đạt 690kg (dê Boer) trong vòng 6 tháng kể từ lúc đẻ. Mặc dù dê nhỏ nhưng nếu giống tốt thì có thể sản xuất ra 3- 3,5 lít sữa/ngày khi được cung cấp thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng. Dê yêu cầu ít thức ãn hơn so với bò và trâu: Nhu cầu thức ăn 10 con dê tương đương như một con bò, 7-8 con dê tương đương như một con bò sữa. Dê nhỏ bé, hiền lành nên ai cũng có thể nuôi được nó, nhưng đối với bò sữa thì người già, phụ nữ và trẻ nhỏ nuôi chúng rất vất vả.
11 Dê cần ít diện tích đồng cỏ. Có thể nuôi dê với lượng nhiều hơn so với nuôi bò. Nếu nuôi ít dê có thể chăn thả quanh vườn nhà, dọc theo bờ đê, bờ ruộng; có thể nuôi nhốt dê trong chuồng, trong sân bãi rồi cắt cỏ, lá về cho ăn hoặc có thể kết hợp chăn thả dê dưới vưòn cây ăn quả, dưới rừng cây nông nghiệp. Dê cung cấp nguồn phân bón cho cây trồng vă làm nguồn thức ăn cho cá, nuôi giun đất có giá trị.
Chăn nuôi dê sữa ở gia đình sẽ cung cấp nguồn thực phẩm sữa dê có giá trị dinh dưỡng cao phục vụ trực tiếp cho con người một cách dễ dàng thuận tiện và là nguồn thu nhập hàng ngày cho người dân. So sánh hiệu quả kinh tế chăn nuôi dê với các loài gia súc khác: Tilonia (Cafasthan - India, 1987) so sánh nuôi một con trâu và 5 con dê sữa trong 4 năm thu được lợi nhuận hàng năm từ chãn nuôi trâu là 1.750 Rs, từ chăn nuôi dê là 1. Abidi và Wahid (Pakixtan, 1975) cho biết chăn nuôi dê cho thu nhập cao hơn 40-60% so với chân nuôi cừu. Devendrá (Malaixia, 1976) cho biết chi phí để sản xuất ra lkg sữa dê chỉ bằng 1/2 so vói sản xuất ra lkg sữa bò, trâu.
So sánh chăn nuôi dê với trâu bò ở vùng khô cằn Ấn Độ thì thấy biểu lộ rõ tính ưu việt của dê, hơn hẳn trâu bò trong cùng một thời kì sản xuất. Một con trâu giá giống cao hơn 20% so với 5 con dê; chi phí về thức ăn, lao động cho trâu cao hơn 70% so với nuôi dê. Trong cùng một chu kì sản xuất 4 năm, trâu chỉ có thể cho 2 chu kì tiết sữa với 2500 lít, trong khi đó một con dê sữa có thể cho 6 chu kì vói tổng số 6000 lít sữa. Giá bán sữa trâu tuy cao hơn sữa dê nhưng tổng thu nhập từ bán sữa dê vẫn cao hơn 60% so với sữa trâu.
Những hạn chế của nghề chăn nuôi dê Dê phàm ãn, ăn được hầu hết các loại lá cây cỏ tự nhiên và cây trồng nên dê có thể ăn trụi cây cối, phá phách hoa màu trong vườn nhà và vườn hàng xóm, cho nên khi nuôi dê ở vùng trồng cây cần phải khoanh vùng hoặc nuôi nhốt. Con dê đực thường có mùi hôi đặc biệt làm con người khó chịu khi nuôi nó gần chỗ ở của người. Chưa có chợ mua bán giống dê, kĩ thuật chăn nuôi dê, đặc biệt là dê sữa chưa được phổ biến rộng rãi. Mặc dù sữa dê thơm ngon, nhưng hiện nay chưa được người tiêu dùng sử dụng rộng rãi vì chưa quen.
TÌN H H ÌN H C H Ă N N U Ô I DÊ TR Ê N T H Ế G IỚ I V À Ở V IỆT N A M 1. T ình hình chăn nuôi dê trê n th ế giới Theo TAC (1992), dê được nuôi ở hầu hết các châu lục từ phía bắc (Scanđinavơ) cho tới phía nam (Nam Mĩ). Dê có mặt ở mọi Bảng I. Phân bố dê trên thế giới Châu lục Số lượng dê (triệu con) % tổng số Châu Á 434 64,01 Châu Phi 204 30,09 Châu Mĩ 23 3,39 Châu Âu 16 2,36 Châu Úc 1 0,15 Tổng sô 678 100 13 vĩ tuyến, giống dê lông dài Cashmere có thể sống ở đỉnh núi Hymalaya và những giống dê đầm lầy sống thích nghi trong những khu rừng ẩm ướt ở Tây Châu Phi.
Theo tài liệu của FAO (1997) được Morand-Fehr (2000) trình bày trong Hội nghị chăn nuôi dê thế giới lần thứ 7 (5/2000) tại Pháp cho biết sự phân bố dê trên th ế giới thể hiện ở bảng 1. Thịt, sữa, da dê cũng là nguồn thu đáng kể do nghề nuôi dê mang lại (bảng 2). Tình hình sản xuất và tiêu thụ thịt, sữa dê trên thế giới (FAO 10/1990) Sản xuất thịt Sản xuất sữa Sản xuất da (1000 tấn) (1000 tấn) (1000 tấn) % tàng % tăng % tăng Khu vực so với so với so với 1990 1990 1990 năm năm năm 1980 1980 1980 Tổng sô' 2.748 11,05 15,3 19,5 Gần đây, theo thông báo của FAO (1999), tổng đàn dê của thế giới là 705.405 con, trong đó hơn 95% số lượng dê được chăn nuôi ở những nước đang phát triển. Trên thế giới có 150 giống dê đã được mô tả cụ thể, còn lại phần lớn ít được mô tả và ít biết đến.
Trong số được mô tả có 63% là dê hướng sữa, 27% là dê hướng thịt, 5% là dê nuôi lấy lông và 5% là dê kiêm dụng (Acharya và Bhattacharya, 1992). Trong 14 vòng 15 năm qua, số lượng dê trên thế giới tăng 50%, trong khi đó cừu giảm 4% và trâu bò chỉ tăng 9% (Morand'Fehr, Boyazoglu, 1999). Tổng sản lượng thịt dê trên thế giới năm 1999 là 3.343,388 triệu tấn, tính từ năm 1989-1999 bình quân tăng 4,33%/năm. Trong đó, các nước Nam và Đông Nam Châu Á chiếm 67,88% (Pashaa và Saithanoo, 2000).
Tổng sản lượng dê sữa của thế giới nãm 1999 là 12 triệu tấn, tính từ năm 1980-1986 sản lượng sữa dê ở những nước đã phát triển tăng 22%, những nước đang phát triển tăng 38%. Sữa dê ngoài dùng trực tiếp còn được chế biến thành các sản phẩm phó mát, sữa bột có giá trị cao (Bandry và cộng sự, 1999). Tình hình chán nuôi dê ở Châu Á Pashaa và Saithanoo (2000) cho biết số lượng dẽ ở Châu Á chiếm tới 62,52% tổng số dê trên thế giới, trong đó hơn 84% dê được nuôi ở các nước Nam và Đông Nam Châu Á. Những nước có số lượng dê lớn nhất ớ châu A là Ân Độ, Pakixtan và Trung Quốc.
Khảo sát của Teufel và cộng sự (1998) cho thu nhập chăn nuôi dê đã đóng góp quan trọng vào sự thu nhập của nhiều gia đình nông dân. Sự tăng dân số của các nước trong khu vực đã kéo theo sự tiêu thụ th ịt dê tãng lên. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương có 146 giống dê chiếm 36% số giống dê của thế giới, phần lớn được nuôi ở Trung Quốc và Pakistan.