Nghiên cứu sự tham gia của HTX vào xây dựng NTM tại Lâm Thao, Phú Thọ - Nguyễn Hồng Sơn

HTX Phú Thọ tiên phong xây dựng nông thôn mới. Nghiên cứu mô hình hợp tác xã kiểu mới, hiệu quả, bền vững, góp phần phát triển kinh tế địa phương.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

153
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

5. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.1. Cơ sỏ lý luận về sự tham gia của hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới

1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.2. Khái niệm về hợp tác xã theo Luật hợp tác xã năm 2012

1.3. Tính khách quan của của hợp tác xã khi tham gia trong xây dựng nông thôn mới

1.4. Sự tham gia của hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới

1.5. Hình thức tham gia của hợp tác xã

1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ

1.7. Cơ sở thực tiễn về sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lâm Thao

1.8. Kinh nghiệm phát huy sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện…)

1.9. Bài học kinh nghiệm (rút ra từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của các địa phương ở trên) đối với địa bàn huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Các câu hỏi nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Phương pháp thu thập số liệu

2.4. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

2.5. Phương pháp phân tích số liệu

2.6. Các chỉ tiêu nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG SỰ THAM GIA CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ

3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.2. Đặc điểm tư nhiên

3.3. Đặc điểm kinh tế xã hội

3.4. Khái quát về tình hình hoạt động của các hợp tác xã trên địa bàn huyện Lâm Thao

3.5. Khái quát chung về các hợp tác xã của huyện Lâm Thao

3.6. Đánh giá chung về tình hình hoạt động của các hợp tác xã của huyện Lâm Thao

3.7. Thực trạng sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ

3.8. Hình thức tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới

3.9. Số lượng, cơ cấu các hợp tác xã tham gia vào chương trình xây dựng nông thôn mới

3.10. Mức độ, chất lượng, hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới

3.11. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ

3.12. Nhân tố nội tại thuộc về hợp tác xã

3.13. Nhân tố bên ngoài hợp tác xã

3.14. Đánh giá thực trạng sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ

3.15. Những kết quả đạt được

3.16. Những hạn chế và nguyên nhân của những han chế

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ

4.1. Quan điểm, phương hướng, mục tiêu để tăng cường sự tham gia của các hợp tác trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ

4.2. Định hướng xây dựng nông thôn mới của huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ

4.3. Định hướng củng cố, phát triển và tăng cường sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới của huyện Lâm Thao

4.4. Giải pháp tăng cường sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ

4.4.1. Đối với cấp Trung ương

4.4.2. Đối với cấp tỉnh

4.4.3. Đối với cấp huyện, xã

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan HTX xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Phú Thọ

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, khởi nguồn từ Nghị quyết 26/NQ-TW của Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng khoá X, đã trở thành một phong trào sâu rộng trên cả nước. Tại Phú Thọ, chương trình này được xem là cuộc cách mạng toàn diện, nhằm thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Trong bối cảnh đó, vai trò của Hợp tác xã (HTX) được xác định là nhân tố cốt lõi, là cầu nối giữa chính sách của Đảng, Nhà nước với người nông dân. HTX không chỉ là một tổ chức kinh tế mà còn là một thiết chế xã hội quan trọng, góp phần thực hiện 19 tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Việc nghiên cứu sự tham gia của các HTX xây dựng nông thôn mới ở Phú Thọ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, giúp đánh giá đúng thực trạng và đề ra các giải pháp phù hợp. Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn (2015) tại huyện Lâm Thao là một tài liệu nền tảng, cung cấp cái nhìn chi tiết về sự đóng góp của các mô hình HTX nông nghiệp Phú Thọ vào quá trình này, từ quy hoạch, phát triển hạ tầng đến tổ chức lại sản xuất và bảo vệ môi trường. Các HTX kiểu mới, hoạt động theo Luật HTX 2012, đã và đang khẳng định vị thế không thể thiếu trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể, tạo ra động lực mới cho kinh tế nông thôn Phú Thọ phát triển bền vững. Mục tiêu của bài viết này là phân tích sâu sắc các khía cạnh tham gia của HTX, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm phát huy tối đa vai trò của HTX trong giai đoạn tiếp theo.

1.1. Cơ sở lý luận về vai trò của HTX trong xây dựng NTM

Về mặt lý luận, sự tồn tại và phát triển của HTX là một tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là ở khu vực nông nghiệp, nông thôn. HTX ra đời để giải quyết những vấn đề mà từng kinh tế hộ riêng lẻ không thể làm được, như tiếp cận vốn, khoa học kỹ thuật, và đặc biệt là thị trường tiêu thụ. Trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, vai trò của HTX trong xây dựng NTM được thể hiện rõ ở ba khía cạnh chính. Thứ nhất, HTX là tổ chức dịch vụ hỗ trợ hiệu quả cho kinh tế hộ, cung cấp vật tư đầu vào với giá hợp lý và tổ chức bao tiêu sản phẩm đầu ra, giúp nông dân yên tâm sản xuất. Thứ hai, HTX là một chủ thể kinh tế, trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, tăng thu nhập cho thành viên, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Thứ ba, HTX đóng vai trò là tổ chức trung gian, giúp truyền tải các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đến với người dân một cách hiệu quả và minh bạch, đồng thời đại diện cho lợi ích của nông dân trước các biến động của thị trường.

1.2. Các nhóm tiêu chí quốc gia và sự tham gia của HTX

Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới gồm 19 tiêu chí, được chia thành 5 nhóm chính. Sự tham gia của HTX có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hầu hết các tiêu chí này. Cụ thể: (1) Nhóm Quy hoạch: HTX tham gia góp ý vào quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch vùng sản xuất. (2) Nhóm Hạ tầng kinh tế - xã hội: HTX trực tiếp tham gia đầu tư, quản lý, vận hành các công trình như kênh mương nội đồng, hệ thống điện hạ thế, chợ nông thôn, góp phần vào việc phát triển hạ tầng nông thôn. (3) Nhóm Kinh tế và tổ chức sản xuất: Đây là nhóm tiêu chí mà HTX thể hiện vai trò rõ nét nhất, đặc biệt là tiêu chí 13 yêu cầu “Có tổ hợp tác hoặc HTX hoạt động có hiệu quả”. HTX giúp nâng cao thu nhập, giảm tỷ lệ hộ nghèo và tạo việc làm. (4) Nhóm Văn hóa - Xã hội - Môi trường: HTX tổ chức các dịch vụ thu gom rác thải, cung cấp nước sạch, tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn. (5) Nhóm Hệ thống chính trị: HTX là một tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở, góp phần giữ vững an ninh, trật tự xã hội.

II. Phân tích thực trạng phát triển HTX tại Phú Thọ hiện nay

Mặc dù vai trò của HTX được khẳng định là quan trọng, thực trạng phát triển HTX tại Phú Thọ, cũng như nhiều địa phương khác, vẫn còn đối mặt với không ít thách thức và hạn chế. Trước khi có Luật HTX 2012, nhiều HTX nông nghiệp hoạt động mang tính hình thức, kém hiệu quả, bộ máy quản lý cồng kềnh, năng lực yếu và chưa thực sự thoát khỏi tư duy bao cấp. Các HTX này chủ yếu chỉ thực hiện một vài dịch vụ cơ bản như thủy nông, bảo vệ thực vật, chưa thể hiện được vai trò là “bà đỡ” cho kinh tế hộ phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Một trong những rào cản lớn nhất là tiềm lực tài chính yếu kém. Hầu hết các HTX thiếu vốn để đầu tư vào cơ sở vật chất, đổi mới công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ưu đãi còn khó khăn do thiếu tài sản thế chấp và các phương án kinh doanh chưa đủ sức thuyết phục. Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý, còn nhiều bất cập. Nhiều cán bộ HTX thiếu kiến thức về quản trị kinh doanh, marketing và luật pháp, dẫn đến việc điều hành hoạt động của HTX còn lúng túng, kém hiệu quả. Những hạn chế nội tại này đã kìm hãm sự phát triển của chính các HTX, làm giảm sút lòng tin của xã viên và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của HTX trong công cuộc xây dựng nông thôn mới.

2.1. Hạn chế về năng lực nội tại và hiệu quả hoạt động

Nghiên cứu thực tế tại huyện Lâm Thao cho thấy, nhiều HTX vẫn hoạt động ở mức trung bình, chưa thực sự chủ động và sáng tạo trong việc tìm kiếm thị trường và đa dạng hóa dịch vụ. Cơ sở vật chất kỹ thuật của phần lớn HTX còn nghèo nàn, lạc hậu. Sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ do HTX cung cấp còn yếu so với các doanh nghiệp tư nhân. Một số HTX được thành lập nhưng chưa phát huy được vai trò tác động đến phát triển kinh tế tập thể của địa phương, chưa tạo được nhiều việc làm ổn định cho người lao động. Tình trạng “xã viên toàn dân” vẫn còn tồn tại ở một số nơi, làm phai nhạt bản chất của HTX là tổ chức của những người có chung nhu cầu, tự nguyện hợp tác để phục vụ lợi ích của chính mình. Những hạn chế này là nguyên nhân chính khiến hiệu quả hoạt động của HTX chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng và kỳ vọng.

2.2. Vướng mắc từ cơ chế chính sách và môi trường kinh doanh

Bên cạnh các yếu tố nội tại, các nhân tố bên ngoài cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của HTX. Hệ thống chính sách hỗ trợ HTX của tỉnh và trung ương tuy đã được ban hành nhưng việc triển khai ở cơ sở đôi khi còn chậm và chưa đồng bộ. Các chính sách về đất đai, tín dụng, xúc tiến thương mại chưa thực sự tạo ra cú hích mạnh mẽ. Chẳng hạn, nhiều HTX gặp khó trong việc thuê đất dài hạn để xây dựng cơ sở chế biến, kho bãi. Môi trường kinh doanh còn nhiều thách thức, sự cạnh tranh từ các thành phần kinh tế khác ngày càng gay gắt. Sự liên kết “4 nhà” (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp - Nhà nông) dù đã được thúc đẩy nhưng vẫn chưa chặt chẽ và bền vững. HTX thường ở thế yếu trong chuỗi giá trị, dễ bị các doanh nghiệp lớn chèn ép về giá cả. Những vướng mắc này đòi hỏi cần có sự vào cuộc quyết liệt hơn nữa từ các cơ quan quản lý nhà nước để tạo một hành lang pháp lý và môi trường kinh doanh thuận lợi cho HTX phát triển.

III. Phương pháp chuyển đổi sang hợp tác xã kiểu mới ở Phú Thọ

Để vượt qua những thách thức và phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nông thôn mới, việc củng cố và phát triển các hợp tác xã kiểu mới ở Phú Thọ là nhiệm vụ cấp bách. Giải pháp căn cơ nhất bắt nguồn từ việc thay đổi tư duy và phương thức hoạt động của chính các HTX. Quá trình này phải được thực hiện đồng bộ, từ nâng cao nhận thức, kiện toàn tổ chức đến đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh. Luật HTX năm 2012 đã tạo ra một khung pháp lý quan trọng cho sự chuyển đổi này. Theo đó, HTX phải hoạt động như một doanh nghiệp thực thụ, lấy lợi ích của thành viên làm trung tâm, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động. Liên minh Hợp tác xã tỉnh Phú Thọ đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, hướng dẫn và hỗ trợ các HTX thực hiện quá trình chuyển đổi. Các hoạt động chính bao gồm: tổ chức lại bộ máy quản lý theo hướng tinh gọn, hiệu quả; xác định lại tư cách thành viên, đảm bảo tính tự nguyện và dân chủ; xây dựng phương án sản xuất kinh doanh khả thi, bám sát nhu cầu thị trường. Quá trình này không chỉ là thay đổi về hình thức mà phải là một cuộc cách mạng về chất, biến HTX thành một tổ chức kinh tế năng động, đủ sức cạnh tranh và thực sự là điểm tựa cho xã viên.

3.1. Tái cơ cấu tổ chức và nâng cao năng lực quản trị

Một trong những bước đi đầu tiên và quan trọng nhất là tái cơ cấu ngành nông nghiệp ngay trong nội tại của HTX. Điều này đòi hỏi phải rà soát, sắp xếp lại bộ máy quản lý. Đội ngũ cán bộ chủ chốt như Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc phải là những người có năng lực, tâm huyết, có kiến thức về kinh tế thị trường. Cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ HTX. Bên cạnh đó, việc xây dựng và thực thi Điều lệ HTX một cách nghiêm túc là yếu tố then chốt để đảm bảo nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch trong mọi hoạt động. Phân phối lợi ích phải công bằng, hợp lý, vừa đảm bảo tái đầu tư phát triển, vừa tăng thu nhập cho thành viên, tạo động lực để họ gắn bó lâu dài với HTX. Các quyết sách lớn của HTX phải được đưa ra bàn bạc dân chủ và có sự đồng thuận cao của các thành viên.

3.2. Đa dạng hóa dịch vụ và định hướng sản xuất hàng hóa

Một hợp tác xã kiểu mới ở Phú Thọ phải là một tổ chức đa dịch vụ, đáp ứng toàn diện nhu cầu của thành viên. Thay vì chỉ làm các dịch vụ công ích, HTX cần mạnh dạn mở rộng sang các lĩnh vực có khả năng sinh lời cao như: cung ứng vật tư nông nghiệp chất lượng, tổ chức sơ chế, chế biến, đóng gói sản phẩm, tìm kiếm và kết nối thị trường tiêu thụ. Việc xây dựng các chuỗi giá trị nông sản là hướng đi tất yếu. HTX đóng vai trò trung tâm, liên kết các hộ sản xuất nhỏ lẻ thành một vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn. Từ đó, HTX có thể ký kết các hợp đồng bao tiêu sản phẩm với doanh nghiệp, đảm bảo đầu ra ổn định cho nông dân. Đây là giải pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng “được mùa, mất giá” và nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản, một bước quan trọng trong việc thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

IV. Cách HTX Phú Thọ tham gia trực tiếp vào 5 nhóm tiêu chí NTM

Sự đóng góp của HTX xây dựng nông thôn mới ở Phú Thọ không chỉ là lý thuyết mà đã được chứng minh qua thực tiễn sinh động tại các địa phương. Các HTX đã và đang tham gia tích cực, trực tiếp vào việc hoàn thành các tiêu chí trong chương trình, đặc biệt là các tiêu chí khó, cần sự chung tay của cộng đồng. Nghiên cứu tại huyện Lâm Thao cho thấy, các HTX nông nghiệp và điện năng đóng vai trò chủ lực trong việc đầu tư, quản lý và khai thác các công trình hạ tầng thiết yếu. HTX đứng ra huy động vốn góp từ xã viên, cùng với nguồn hỗ trợ của nhà nước để bê tông hóa đường giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương nội đồng, cải tạo lưới điện hạ áp. Nhờ có HTX, các công trình sau đầu tư được quản lý, duy tu, bảo dưỡng hiệu quả, phát huy tối đa công năng. Trong lĩnh vực kinh tế, HTX là động lực chính thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Các mô hình “cánh đồng mẫu lớn”, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP được hình thành và nhân rộng thông qua vai trò tổ chức của HTX, góp phần tăng năng suất, chất lượng nông sản và nâng cao thu nhập cho người dân, đóng góp trực tiếp vào hiệu quả hoạt động của HTX.

4.1. Dẫn dắt phát triển kinh tế tập thể và hạ tầng nông thôn

HTX là hạt nhân của phát triển kinh tế tập thể. Tại Phú Thọ, nhiều mô hình HTX nông nghiệp Phú Thọ đã thành công trong việc xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh như chè, bưởi, rau an toàn. HTX tổ chức sản xuất, cung cấp dịch vụ đầu vào và bao tiêu sản phẩm, tạo thành một chu trình khép kín. Về phát triển hạ tầng nông thôn, vai trò của HTX cũng rất rõ nét. Điển hình như mô hình HTX dịch vụ nông nghiệp và điện năng Thạch Sơn (Lâm Thao) đã huy động hàng tỷ đồng để đầu tư, quản lý và khai thác hệ thống lưới điện, đường giao thông, kênh mương nội đồng. HTX nông nghiệp Cao Xá, Bản Nguyên còn đầu tư xây dựng và quản lý chợ nông thôn đạt chuẩn, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương, buôn bán trong vùng.

4.2. Góp phần vào các tiêu chí văn hóa xã hội và môi trường

Không chỉ tập trung vào kinh tế, các HTX còn tham gia tích cực vào các lĩnh vực xã hội. Nhiều HTX đã tiên phong trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, thành lập các tổ dịch vụ thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt, góp phần làm cho làng quê xanh - sạch - đẹp. Mô hình thu gom rác thải tại HTX nông nghiệp và Điện năng Tiên Kiên là một ví dụ. HTX cũng phối hợp với các trung tâm khuyến nông, trường nghề để tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật, đào tạo nghề ngắn hạn cho xã viên, góp phần nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo. Bằng việc nâng cao thu nhập và tạo việc làm, HTX gián tiếp góp phần vào việc đảm bảo an ninh trật tự, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, hướng tới mục tiêu nông thôn mới nâng cao.

V. Bài học kinh nghiệm từ mô hình HTX xây dựng NTM ở Lâm Thao

Nghiên cứu điển hình tại huyện Lâm Thao, một trong những địa phương đi đầu của tỉnh Phú Thọ trong xây dựng nông thôn mới, đã mang lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Thực tiễn cho thấy, ở đâu có cấp ủy, chính quyền quan tâm, chỉ đạo sâu sát, ở đó phong trào phát triển kinh tế tập thể và vai trò của HTX được phát huy mạnh mẽ. Sự thành công của các HTX xây dựng nông thôn mới ở Phú Thọ, đặc biệt tại Lâm Thao, không phải là ngẫu nhiên. Nó đến từ sự kết hợp hài hòa giữa nỗ lực tự thân của HTX và sự hỗ trợ, tạo điều kiện của nhà nước. Một bài học quan trọng là phải lựa chọn được đội ngũ cán bộ quản lý HTX có năng lực, tâm huyết và dám nghĩ dám làm. Họ chính là “linh hồn” dẫn dắt HTX vượt qua khó khăn, nắm bắt cơ hội thị trường. Bên cạnh đó, việc xây dựng mối quan hệ gắn bó, tin cậy với xã viên là nền tảng cho sự phát triển bền vững. Khi xã viên thấy được lợi ích thiết thực từ việc tham gia HTX, họ sẽ tự nguyện đóng góp công sức, trí tuệ và vốn liếng để cùng xây dựng HTX ngày càng vững mạnh. Các mô hình thành công như HTX nông nghiệp xã Kinh Kệ với giống ngô nếp chất lượng cao hay HTX Xuân Huy với mô hình nuôi cá lồng là minh chứng rõ ràng cho điều này.

5.1. Kết quả thực tiễn và những đóng góp cụ thể

Qua khảo sát, các HTX ở Lâm Thao đã tham gia ở nhiều mức độ khác nhau, từ tham vấn, lập kế hoạch đến trực tiếp thực hiện và quản lý các công trình, dự án trong chương trình NTM. Kết quả rõ rệt nhất là sự thay đổi của bộ mặt hạ tầng nông thôn. Hàng chục km đường giao thông, kênh mương được kiên cố hóa; hệ thống điện được đảm bảo an toàn, phục vụ tốt cho sản xuất và sinh hoạt. Về kinh tế, thu nhập bình quân đầu người tại các xã có HTX hoạt động hiệu quả tăng lên đáng kể. HTX đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện tiêu chí số 10 (Thu nhập), số 12 (Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên) và số 13 (Hình thức tổ chức sản xuất). Đây là những minh chứng sống động cho thấy hiệu quả hoạt động của HTX khi được đặt đúng vị trí và phát huy đúng vai trò.

5.2. Nguyên nhân thành công và những vấn đề còn tồn tại

Nguyên nhân của thành công trước hết đến từ sự đổi mới trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị và bản thân các HTX. Việc triển khai Luật HTX 2012 đã tạo ra một luồng sinh khí mới. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực trạng phát triển HTX ở Lâm Thao vẫn còn một số tồn tại. Một bộ phận HTX vẫn còn yếu về năng lực tài chính và quản trị, hoạt động cầm chừng. Sự liên kết giữa các HTX với nhau và với doanh nghiệp còn lỏng lẻo. Để khắc phục những điểm yếu này, cần có những giải pháp phát triển HTX bền vững hơn trong thời gian tới, tập trung vào việc tháo gỡ các nút thắt về vốn, đất đai và thị trường.

VI. Top giải pháp phát triển HTX bền vững tại Phú Thọ 2024

Để HTX xây dựng nông thôn mới ở Phú Thọ phát triển bền vững và thực sự trở thành trụ đỡ của kinh tế nông thôn, cần triển khai đồng bộ một hệ thống các giải pháp mang tính chiến lược. Các giải pháp này phải giải quyết được tận gốc những khó khăn, vướng mắc mà HTX đang đối mặt, đồng thời mở ra những hướng đi mới, phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Kinh nghiệm từ các địa phương và kết quả nghiên cứu cho thấy, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, từ trung ương đến địa phương, trong đó vai trò của Liên minh Hợp tác xã tỉnh Phú Thọ là hết sức quan trọng. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng được một thế hệ HTX kiểu mới năng động, sáng tạo, có năng lực cạnh tranh cao, đủ sức dẫn dắt nền nông nghiệp của tỉnh phát triển theo hướng hiện đại, bền vững. Đây cũng là nền tảng vững chắc để Phú Thọ hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu và phát triển các chuỗi giá trị cho sản phẩm OCOP Phú Thọ.

6.1. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ HTX của tỉnh và trung ương

Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện và thực thi hiệu quả hệ thống chính sách hỗ trợ HTX của tỉnh và trung ương. Cần có chính sách cụ thể về việc giao đất, cho thuê đất dài hạn để HTX có mặt bằng sản xuất ổn định. Cần tạo điều kiện thuận lợi hơn để HTX tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi từ Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX và các ngân hàng thương mại. Chính sách hỗ trợ cần tập trung vào các khâu then chốt như: đào tạo nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại. Đặc biệt, cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp lớn tham gia liên kết, đầu tư vào các HTX, hình thành các chuỗi giá trị nông sản bền vững. Đây là giải pháp phát triển HTX bền vững mang tính nền tảng.

6.2. Hướng tới nông thôn mới nâng cao và sản phẩm OCOP

Trong giai đoạn mới, vai trò của HTX không chỉ dừng lại ở việc hoàn thành 19 tiêu chí NTM cơ bản mà phải hướng tới các mục tiêu cao hơn là xây dựng nông thôn mới nâng cao và phát triển các sản phẩm OCOP Phú Thọ. HTX là chủ thể lý tưởng để tổ chức sản xuất các sản phẩm đặc trưng của địa phương theo quy trình chuẩn, đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm và có truy xuất nguồn gốc. HTX sẽ đứng ra xây dựng thương hiệu, thiết kế bao bì, nhãn mác và kết nối với các kênh phân phối hiện đại. Việc phát triển thành công các sản phẩm OCOP không chỉ nâng cao giá trị nông sản, tăng thu nhập cho người dân mà còn góp phần quảng bá hình ảnh, văn hóa của kinh tế nông thôn Phú Thọ, tạo ra sức bật mới cho sự phát triển toàn diện và bền vững.

22/09/2025
Nghiên cứu sự tham gia của các hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lâm thao tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Cơ sỏ lý luận về sự tham gia của hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm về hợp tác xã theo Luật hợp tác xã năm 2012 Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.

Sự tồn tại của Hợp tác xã là một tất yếu khách quan - Hợp tác xã nói chung và Hợp tác xã nông nghiệp nói riêng ra đời trên cơ sở các mối quan hệ hợp tác phát triển. Vì vậy, ở đâu có mối quan hệ hợp tác phát triển thì ở đó sẽ xuất hiện hình thức Hợp tác xã. - Trong giai đoạn sản xuất tự cung tự cấp, các mối quan hệ hợp tác diễn ra không thường xuyên, mang tính chất đơn lẻ. Vì vậy, ở giai đoạn này chưa thể tổ chức Hợp tác xã hoặc nếu có cũng chưa có hiệu quả.

Trong giai đoạn sản xuất hàng hóa, các quan hệ hợp tác diễn ra thường xuyên, liên tục ở mọi giai đoạn của quá trình sản xuất nhất là giai đoạn cung ứng vật tư, nguyên liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Vì vậy trong quá trình sản xuất hàng hóa cần thiết phải tổ chức các Hợp tác xã để hỗ trợ giúp đỡ nhau đặc biệt là những người sản xuất nhỏ, những người nông dân. - Mặt khác, quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường đã không tạo được điều kiện để bảo vệ khu vực kinh tế cá thể như hộ nông dân, hộ tư thương… Bởi vì họ luôn bị các thế lực kinh tế tư nhân cạnh tranh, chèn ép. Chính vì vậy, để có thể tồn tại và phát triển được họ đã phải hợp sức, hợp vốn với nhau trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi để giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau cùng sản xuất, dịch vụ với các sản phẩm giá rẻ hơn, chất lượng phù hợp với nhu cầu của họ và có thể Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 bán được sản phẩm làm ra trên thị trường.

Từ đó mà hình thức tổ chức kinh tế mới đã ra đời, có tên gọi là “hợp tác xã”. Mục tiêu của Hợp tác xã không chỉ vì lợi nhuận, mà còn vì sự hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau để có thể tồn tại bên cạnh các doanh nghiệp lớn. - Xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ trong nền kinh tế thị trường cũng ngày càng được hoàn bị hơn. Do vậy Hợp tác xã cũng đồng thời phải tự mình vươn lên, thích nghi và phát triển cùng với nhịp độ phát triển của kinh tế thị trường.

Mục đích của Hợp tác xã đã không chỉ dừng lại như lúc khởi đầu là giúp đỡ tương trợ nhau giữa những người nghèo để cùng tồn tại mà đòi hỏi phải tự mình loại bỏ những hạn chế của Hợp tác xã ra đời ở thời kỳ đầu, luôn cải tiến trang thiết bị, công nghệ mới, đầu tư chiều sâu, hiện đại hóa sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý để đạt hiệu quả sản xuất, kinh doanh ngày càng cao. Chính vì lẽ đó, Hợp tác xã đã ngày càng phát triển mở rộng, dung nạp không chỉ những người nghèo mà cả những người giàu có trong xã hội có chung mục đích, có nhu cầu và thừa nhận tôn chỉ, mục đích của Hợp tác xã tự nguyện tham gia. Ngày nay, khi nền kinh tế thị trường đạt tới trình độ khá cao và hoàn bị, thì Hợp tác xã vẫn phát triển không chỉ ở hầu hết các nước mà ngay tại các nước tư bản phát triển, Hợp tác xã vẫn tiếp tục tồn tại, hoàn thiện, phát triển không ngừng và đạt trình độ ngày càng cao về mọi mặt. Khái niệm về nông thôn - Hiện nay trên thế giới chưa có định nghĩa chính xác về nông thôn, còn có nhiều quan điểm khác nhau.

Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn. Cũng có ý kiến nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định. Theo quan điểm này, vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị.

- Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 nông nghiệp. Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế. Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ rải rác ở vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những điểm khác so với khái niệm trước đây. Có thể hiểu nông thôn hiện nay bao gồm cả những đô thị nhỏ, thị tứ, thị trấn, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại, hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển.

+ Hội nghị nhóm chuyên viên của Liên Hiệp Quốc đã đề nghị đến một khái niệm: CONTINIUM - Nông thôn đô thị. Có thể hiểu nông thôn đô thị là một khu vực kinh tế hỗn hợp gồm nông thôn, nông thị và đô thị kế tiếp, xen kẽ nhau. Trong đó, nông thôn được coi là các làng xã nông nghiệp cổ truyền, nông thị là các đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ, chợ có chức năng như nhu cầu nối giữa nông thôn và thành thị, còn đô thị là các thành phố lớn và vừa hoặc các khu công nghiệp tập trung. Trong nông thôn đô thị, các hoạt động nông nghiệp được gắn liền với công nghiệp hóa đô thị hóa.

+ Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện hiện nay tại Việt Nam, khái niệm về nông thôn có thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông thôn. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”. Vai trò của nông thôn - Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam tập trung vào ba ngành quan trọng gồm: Chăn nuôi, thủy sản và gạo.

Trong đó, gạo và chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong an ninh lương thực quốc gia và tạo sinh kế cho hàng triệu người dân. Ngành thủy sản hiện đóng vai trò đầu tàu trong sản xuất nông, lâm, thủy sản nói riêng và xuất khẩu của cả nước nói chung. - Nông thôn ở nước ta bao gồm những vai trò sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 9 + Thứ nhất, nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng của cả xã hội. Người nông dân ở nông thôn sản xuất lương thực, thực phẩm để nuôi sống họ và cung cấp cho nhân dân cả nước.

Sự gia tăng dân số là sức ép to lớn đối với sản xuất nông nghiệp trong việc cung ứng đủ lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội. Vì vậy, sự phát triển bền vững nông thôn sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu lương thực và thực phẩm tiêu dùng cho toàn xã hội và nâng cao năng lực xuất khẩu các mặt hàng này cho quốc gia. + Thứ hai, với số dân chiếm đa số sống bằng nông nghiệp, khu vực nông thôn thực sự là nguồn nhân lực dồi dào cho khu vực thành thị. Sự thâm nhập của lao động vào thành thị đủ để đáp ứng nhu cầu lâu dài của phát triển kinh tế quốc gia.

Nếu việc di chuyển nhân công ra khỏi nông nghiệp sang các ngành khác bị hạn chế thì sự tăng trưởng sẽ bị ảnh hưởng và việc phát triển kinh tế sẽ phiến diện. Vì vậy, phát triển bền vững nông thôn sẽ góp phần làm ổn định kinh tế quốc gia. + Thứ ba, nông thôn là thị trường quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của khu vực thành thị hiện đại. Trước hết nông thôn là địa bàn quan trọng tiêu thụ các sản phẩm của nông nghiệp.

Nếu thị trường rộng lớn ở nông thôn được khai thông, thu nhập người dân nông thôn được nâng cao, sức mua của người dân tăng lên, công nghiệp có điều kiện thuận lợi để tiêu thụ sản phẩm sản xuất của toàn ngành, không chỉ hàng tiêu dùng mà cả các yếu tố đầu vào của nông nghiệp. Phát triển nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển công nghiệp và những ngành sản xuất khác trên phạm vi toàn xã hội. Năm 2013, xuất khẩu nông, lâm và thủy sản của Việt Nam đạt 27,5 tỷ USD tăng 0,7% so với năm 2012 và ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế chiếm 24,1% kim ngạch xuất khẩu cả nước trong năm 2013. + Thứ tư, nông thôn có rất nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, bao gồm nhiều tầng lớp, nhiều thành phần khác nhau.

Mỗi sự biến động tích cực hay tiêu cực đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng của cả nước. Do đó, sự phát triển và ổn định nông thôn sẽ góp phần quan trọng trong việc đảm bảo ổn định tình hình của cả nước. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ