CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN DU LỊCH 1. Hợp tác quốc tế trong hoạt động xúc tiến du lịch 1.1 Khái niệm về hợp tác quốc tế và hợp tác quốc tế trong xúc tiến du lịch 1. Hợp tác quốc tế Chúng ta đã bước sang thế kỷ 21với xu thế phát triển và hội nhập quốc tế luôn giữ vai trò chủ đạo. Trong thời kỳ này, bất cứ quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, dù thuộc hệ thống kinh tế xã hội nào cũng chịu tác động của các quan hệ quốc tế.
Có thể nói, hiện nay mọi quốc gia đều phải đối mặt với rất nhiều yếu tố bất ổn tiềm ẩn, khó lường trên thế giới và trong khu vực như: tình hình bất ổn chính trị, khủng hoảng tài chính, thiên tai do biến đổi khí hậu…, nhưng hòa bình, hợp tác cùng phát triển vẫn là xu thế chủ đạo. Trong bất cứ ngành, lĩnh vực nào, xu thế này luôn thể hiện được tầm quan trọng của nó và mang lại nhiều cơ hội thách thức cho mỗi quốc gia trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của nó. Ngay từ năm 1946, sau khi đất nước ta thống nhất, tuyên bố độc lập chủ quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tổng thư ký Liên Hợp quốc (tháng 12/1946), trong đó nêu rõ: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực. Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ thuật của mình.
Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế. Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên Hợp quốc” [8;tr. Thấm nhuần tư tưởng của Hồ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chủ tịch, trong những năm vừa qua, Việt Nam đã tìm mọi cách để mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, ký kết nhiều hiệp định song phương, đa phương. Có thể nói, trong thời gian quan, kể cả trong thời chiến cũng như thời bình, hợp tác quốc tế luôn được quan tâm và tăng cường.
Những dấu mốc hợp tác quốc tế của Việt Nam trong thời gian qua có thể kể đến như sau: năm 1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp quốc; tới năm 1978, Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồng tương trợ kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa (SEV); năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); năm 1996, Việt Nam tham gia thành lập Hợp tác Á - Âu (ASEM); năm 1998, Việt Nam trở thành thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á -Thái Bình Dương (APEC) và đặc biệt vào ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới WTO. Những thành tựu trên là những minh chứng hết sức cụ thể cho sự nhất quán, kiên định trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xây dựng mối quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới. Ngày này, trong bối cảnh thế giới đầy biến động, có nhiều yếu tố mới xuất hiện, có thể vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với các quốc gia. Toàn cầu hóa được đánh giá là một xu thế khách quan, nó lôi cuốn các quốc gia, các vùng lãnh thổ cùng tham gia, vừa tăng cường hợp tác quốc tế, tăng sự cạnh tranh và phụ thuộc lẫn nhau.
Nhưng hơn hết, các quốc gia và vùng lãnh thổ đều hiểu rằng, xu thế hợp tác quốc tế bao giờ cũng chiếm ưu thế vì mục đích đôi bên cùng có lợi. Theo tác giả Hoàng Khắc Nam (2006), “Hợp tác vừa là cách thức, vừa là mục đích mà nhân loại phấn đấu để đạt được”. Trong quan hệ quốc tế, hợp 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác là hình thức quan hệ thứ hai cùng với xung đột. Cũng theo tác giả: “Hợp tác là hình thức đã tồn tại ngay từ đầu lịch sử loài người, cùng với sự hình thành các cộng đồng sơ khai như bầy đàn, công xã, thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc.
Khi xuất hiện các chủ thể quan hệ quốc tế tức là khi quốc gia và dân tộc hình thành, hợp tác đã trở thành hợp tác quốc tế. Thực tế cho thấy, sự tương tác giữa các chủ thể làm lên quan hệ, không có các chủ thể cùng tham gia thì sẽ không có hợp tác. Tác giả Hoàng Khắc Nam (2006), khẳng định “Chủ thể quan hệ quốc tế là những thực thể đóng một vai trò có thể nhận thấy được trong quan hệ quốc tế” [11,tr. Trong Quan hệ quốc tế, các chủ thể ở đây được chia thành ba loại, bao gồm: chủ thể quốc gia, chủ thể phi quốc gia và chủ thể dưới quốc gia.
Năm 1933, Công ước Montevideo đã ra đời và qui định về quyền và nghĩa vụ của quốc gia. Theo Công ước này, quốc gia được định nghĩa như sau: “Quốc gia là một thực thể pháp lý quốc tế và phải có đặc tính sau: Một dân cư thường xuyên, một lãnh thổ xác định và một chính phủ có khả năng duy trì sự kiểm soát hiệu quả trên lãnh thổ của nó và tiến hành quan hệ quốc tế với quốc gia khác”. Chủ thể quốc gia là chủ thể cơ bản và có vai trò lớn nhất. Chủ thể phi quốc gia là những chủ thể không phải là quốc gia.
Đây là loại chủ thể có sự độc lập tương đối với quốc gia và có quy mô hoạt động vượt khỏi biên giới quốc gia như: các tổ chức phi chính phủ, công ty đa quốc gia, một số nhóm chính trị - xã hội… Chủ thể dưới quốc gia là chủ thể hoạt động phụ thuộc khá nhiều vào quốc gia nhưng cũng có sự độc lập tương đối và đóng vai trò nhất định, ví dụ như: chính quyền địa phương, cá nhân…, chủ thể này hoạt động phụ thuộc khá nhiều vào quốc gia. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong quá trình hình thành và phát triển của mỗi quốc gia, hợp tác quốc tế là một hiện tượng xuyên lịch sử. Nó tồn tại trong giai đoạn lịch sử bất chấp thế giới đầy những xung đột và chiến tranh. Cho đến nay, hợp tác quốc tế đã trở thành xu thế lớn trong quan hệ quốc tế và lôi cuốn mọi quốc gia và con người khắp nơi trên thế giới cùng tham gia.
Hợp tác quốc tế là một hình thức tương tác trong quan hệ quốc tế. Về mặt hành vi, đó là sự tương tác hòa bình giữa các chủ thể quan hệ quốc tế, tức là trong đó bạo lực được loại ra. Về mặt mục đích, hợp tác là cách thức phối hợp nhằm thực hiện các mục đích chung, lợi ích chung. Sự phối hợp đa dạng từ nhân lực, vật lực đến tài lực.
Về mặt kết quả, sự hợp tác thường đem lại kết quả như nhau cho các bên tham gia hợp tác tức là hoặc cùng được, hoặc cùng không thỏa mãn… Theo tác giả Hoàng Khắc Nam (2006), dựa vào các đặc trưng trên có thể đưa ra khái niệm chung cho hợp tác quốc tế như sau: “Hợp tác quốc tế là sự phối hợp hòa bình giữa các chủ thể quan hệ quốc tế nhằm thực hiện các mục đích chung” [11,tr. Xúc tiến du lịch Du lịch Việt Nam đã và đang được xác định là một trong những mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, một ngành công nghiệp không khói có khả năng mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho nước nhà. Do đó, việc thúc đẩy hợp tác trong du lịch, đặc biệt là hợp tác quốc tế trong xúc tiến du lịch là hoạt động không thể thiếu được của Ngành Du lịch nước nhà. Du lịch Việt Nam đã trải qua hơn 50 năm phát triển, đã đạt được những thành tựu nhất định, tuy nhiên, Du lịch Việt Nam vẫn chưa phát triển đúng với tiềm năng vốn có của nó.
Luật Du lịch Việt Nam được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, khóa XI năm 2005, đã nêu khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là hoạt động có 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com liên quan của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [12,tr. Từ khái niệm trên, có thể hiểu du lịch trên hai khía cạnh: Một là, dưới góc độ người đi du lịch thì du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thăm quan các danh lam, thắng cảnh, các di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật, điều đó đã cho thấy hoạt động du lịch thực sự liên quan tới nhiều ngành và nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội của con người. Với xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế, kinh tế các nước vừa phát triển vừa tăng cường liên kết, hợp tác thì ngành du lịch cũng không thể nằm ngoài guồng quay này. Việc không ngừng tìm kiếm cơ hội thúc đẩy phát triển nền kinh tế nói chung cũng như ngành du lịch nói riêng đều là mối quan tâm trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Theo nghĩa rộng, Luật du lịch Việt Nam 2005 đã quy định về xúc tiến du lịch tại Điều 4 Khoản 17: Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiến, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch. Bên cạnh đó, Luật Du lịch 2005 cũng đã xác định nội dung của hoạt động xúc tiến du lịch bao gồm: - Tuyên truyền, giới thiệu rộng rãi về đất nước, con người Việt Nam, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, di tích cách mạng, di sản văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người, bản sắc văn hoá dân tộc cho nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế. - Nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, tạo môi trường du lịch văn minh, lành mạnh, an toàn, phát huy truyền thống mến khách của dân tộc. - Huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển các đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, điểm đến du lịch đa dạng, độc đáo, có chất lượng, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc trong cả nước, từng vùng và từng địa phương; 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch.