Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Trung Quốc học (mã số: 62 31 06 02) thuộc ngành Đông phương học với đề tài "Quan hệ giao lưu và hợp tác giáo dục giữa Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn từ 1950 đến nay" do nghiên cứu sinh Vũ Minh Hải thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Vũ Dương Ninh và GS. Nguyễn Văn Kim, bảo vệ năm 2019.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, quan hệ bang giao và giao lưu văn hóa, giáo dục giữa Việt Nam và Trung Quốc có lịch sử hơn 2000 năm. Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức ngày 18/01/1950, hợp tác giáo dục giữa hai nước đã trải qua nhiều giai đoạn với các hình thức đa dạng, đặc biệt là sự hỗ trợ đào tạo cán bộ, thực tập sinh trong những năm 1950–1970 và sự mở rộng liên kết đào tạo đại học sau khi bình thường hóa quan hệ năm 1991. Tuy nhiên, các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu quan hệ chính trị, ngoại giao, kinh tế hoặc chỉ khảo cứu giáo dục đại học từng giai đoạn ngắn mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống tiến trình lịch sử quan hệ hợp tác giáo dục Việt – Trung từ năm 1950 đến năm 2018 dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ của cả hai nước.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ quá trình vận động, đặc điểm, các giai đoạn phát triển căn bản, sự biến đổi, vai trò, thành tựu, hạn chế và triển vọng của quan hệ hợp tác giáo dục Việt Nam – Trung Quốc từ năm 1950 đến năm 2018. Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 6 nhiệm vụ:

  1. Nghiên cứu bối cảnh lịch sử dẫn tới sự hình thành, phát triển của quan hệ hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Trung Quốc.
  2. Phân tích có hệ thống quá trình vận động của quan hệ hợp tác giáo dục giữa hai nước qua từng giai đoạn.
  3. Phân tích chủ trương, chính sách phát triển giáo dục song phương, đa phương của hai nước để xác định xu hướng phát triển quan hệ giáo dục Việt – Trung.
  4. Đánh giá hoạt động hợp tác giáo dục Việt Nam – Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 1950 đến năm 2018.
  5. Thông qua phương pháp SWOT nhằm phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đặt ra trong việc phát triển quan hệ giao lưu và hợp tác giáo dục Việt Nam – Trung Quốc hiện nay.
  6. Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy vai trò của giáo dục trong việc phát triển quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn tiếp theo.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1950 đến năm 2018.
  • Phạm vi thời gian: Từ ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (18/01/1950) đến năm 2018 (mốc 40 năm Trung Quốc cải cách mở cửa). Luận án phân kỳ thành hai giai đoạn chính: 1950–1979 và 1980–2018.
  • Phạm vi không gian: Hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Trung Quốc đại lục (không bao gồm Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hợp tác giáo dục đại học, đào tạo cán bộ, thực tập sinh, lưu học sinh đại học và nghiên cứu sinh; mảng giao lưu giáo dục xuất hiện từ đầu những năm 2000 được phân tích để minh chứng tính đa dạng của quan hệ hợp tác.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan theo 4 nhóm chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về quan hệ hai nước trên các lĩnh vực:

  • Kỷ yếu hội thảo "Việt Nam – Trung Quốc: tăng cường hợp tác cùng nhau phát triển – hướng tới tương lai" (Viện Nghiên cứu Trung Quốc, NXB Khoa học Xã hội, 2005) với 39 bài viết của các tác giả Nguyễn Huy Quý, Đỗ Tiến Sâm, Lê Văn Mỹ, Trần Khánh, Lê Văn Sang, Nông Lập Phu, Cổ Tiểu Tùng, Vi Thụ Tiên, Chương Thâu.
  • Về ngoại giao và chính trị: Các công trình của Nguyễn Đình Liêm (chủ biên, 2013), Lê Văn Mỹ (chủ biên, 2011), Đỗ Tiến Sâm (1996), tập sách kỷ niệm 65 năm quan hệ ngoại giao (NXB Hồng Đức, 2015) với bài viết của các Đại sứ Hồng Tiểu Dũng, Tề Kiến Quốc, Lý Gia Trung, Nguyễn Văn Thơ, Bùi Hồng Phúc, Khổng Huyễn Hựu; các bài báo của Trần Khánh (2014), Vũ Cao Phan (2014), Nguyễn Quân (2014), Nguyễn Thị Thu Phương (2013), Nguyễn Nhâm (2014), Đỗ Tiến Sâm và Hoàng Thế Anh (2014), Nguyễn Thị Phương Hoa (2013).
  • Công trình của học giả Trung Quốc: Sách của Văn Trang (Lịch sử hai nghìn năm quan hệ Trung – Việt, 2013), Cổ Tiểu Tùng (Tình hình Việt Nam và quan hệ Trung Việt, 2007), nhóm tác giả Hoàng Quốc An, Dương Vạn Tú, Dương Lập Băng, Hoàng Tranh (Lịch sử quan hệ Trung Việt giản biên, 1986), tập tư liệu Lịch sử quan hệ Trung Việt đại sự ký của Trung tâm Nghiên cứu Indochina thuộc Viện Khoa học Xã hội Quảng Tây (1980).
  • Về kinh tế, thương mại: Sách của Đỗ Tiến Sâm (2001, 2005), ấn phẩm của Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại – Bộ Công thương (2008, 2009), sách của Phạm Sỹ Thành (chủ biên, 2013), sách dịch của Fareed Zakaria, Paul Krugman, Zbigniew Brzezinski (2011), cùng các bài viết của Lê Thanh Tùng và Lê Huyền Trang (2014), Doãn Công Khanh (2014), Hải Yến (2014), Nguyễn Quốc Trường (2014).
  • Về văn hóa và ngôn ngữ: Sách của Phạm Hồng Quý và Lưu Chí Cường (Thám cứu Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, 2007), Đỗ Tiến Sâm (chủ biên, 2014), Hoài Nam và Hồng Yến (2014), Nguyễn Phương Liên (2014), Nguyễn Văn Căn (2014), Minh Cao và Hoài Nam (2014), Nguyễn Thanh Giang (2013).

Nhóm 2: Các công trình về chủ trương, chính sách giáo dục của Việt Nam và Trung Quốc:

  • Bộ sách Lịch sử giao lưu và hợp tác giáo dục quốc tế của Trung Quốc do Dư Phú Tăng, Giang Ba, Châu Tiểu Ngọc chủ biên (NXB Hải Nam, 2001).
  • Các nghiên cứu của Nguyễn Văn Căn (2006, 2010) về cải cách giáo dục thời kỳ "Khoa giáo hưng quốc" và quan hệ văn hóa Việt – Trung từ 1993 đến 2010; bài viết của Lý Thái Sinh (2011) về đối sách hợp tác giáo dục đại học Trung – Việt trong bối cảnh Khu mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN.

Nhóm 3: Các công trình khảo cứu chuyên sâu về quan hệ hợp tác giáo dục Việt Nam – Trung Quốc:

  • Bài viết tổng quan của Vũ Minh Tuấn (Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2005); sách Hướng dẫn về quan hệ quốc tế trong giáo dục và đào tạo của Vụ Hợp tác Quốc tế (1996, 2002).
  • Các công trình chuyên khảo: Sách của Tạ Ngọc Tấn (chỉ đạo, 2012) có bài của E. Smolkova; sách của Nguyễn Đăng Tiến (chủ biên, 1996); luận án tiến sĩ và sách của Nguyễn Văn Căn (2005, 2006) về cải cách giáo dục Trung Quốc 1978–2003; bài nghiên cứu của Yutaka Otsuka (Đại học Hiroshima, 2012) về viện trợ giáo dục đại học của Trung Quốc qua trường hợp Khu học xá Trung ương; sách của Trần Lập (NXB Đại học Chiết Giang, 2011); luận văn thạc sĩ của Hoàng Hà Mạnh (2014), Đường Quốc Tùng (2014) và đặc biệt là luận văn thạc sĩ của Trần Phượng (2015) về hợp tác giáo dục Trung – Việt từ năm 1991 đến 2015.

Nhóm 4: Các công trình tổng kết, nhận định, đánh giá về quan hệ hợp tác giáo dục hai nước:

  • Chuyên đề hợp tác giáo dục đại học lưu vực sông Hồng với các bài của Đỗ Tiến Sâm, Nguyễn Văn Khánh, Cam Tuyết Xuân (2014); bài viết của Lê Xảo Bình (2013), Lê Đức Hoàng (2013), Nông Lập Phu (2012); sách của Jannette Ryan (chủ biên, 2011) có bài của Anthony Welch và HongXing Cai; sách lịch sử giáo dục thế giới của Nguyễn Lân (1958).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các công trình đã công bố chỉ tiếp cận từ một phía (hoặc Việt Nam, hoặc Trung Quốc), tập trung vào giai đoạn ngắn sau năm 1991, hoặc nghiên cứu giáo dục vùng biên giới. Chưa có công trình nào bao quát toàn bộ tiến trình từ năm 1950 đến năm 2018 bằng cách tiếp cận liên ngành lịch sử - quan hệ quốc tế, kết hợp khai thác đồng bộ nguồn văn bản lưu trữ gốc của cả Việt Nam và Trung Quốc. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc phân kỳ lịch sử, làm rõ cơ chế tổ chức thực hiện và đánh giá tác động nhiều mặt từ góc độ lợi ích và chính sách của Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án vận dụng 4 lý thuyết quan hệ quốc tế và các quan điểm tư tưởng giáo dục để xây dựng khung phân tích:

  1. Chủ nghĩa Mác – Lênin: Sử dụng các luận điểm về chủ nghĩa quốc tế vô sản và sự kết hợp giữa phong trào giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin để luận giải động lực viện trợ, tiếp nhận và đào tạo lưu học sinh, thực tập sinh Việt Nam của Trung Quốc và Liên Xô giai đoạn 1950–1979.
  2. Chủ nghĩa hiện thực: Sử dụng quan điểm về quan hệ "nước lớn – nước nhỏ", tương quan sức mạnh tổng hợp quốc gia, việc sử dụng các lĩnh vực văn hóa - giáo dục phục vụ mục tiêu chính trị, và lý thuyết "quyền lực mềm" của Joseph Nye Jr. (gồm văn hóa đại chúng và văn hóa hàn lâm) cũng như sáng kiến "Vành đai và con đường" (trọng tâm "lòng dân thông hiểu" trong ngũ thông) để giải thích sự mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc và đối sách tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam giai đoạn 1980–2018.
  3. Chủ nghĩa tự do: Áp dụng lý thuyết về sự phụ thuộc lẫn nhau, xu thế hội nhập quốc tế (integration) và lợi ích hợp tác cùng có lợi để phân tích quan hệ tương hỗ giữa tăng trưởng kinh tế, thương mại song phương và hợp tác giáo dục từ sau bình thường hóa quan hệ năm 1991.
  4. Chủ nghĩa kiến tạo: Dựa trên quan điểm của Peter J. Katzenstein về vai trò của bản sắc, chuẩn mực văn hóa, thể chế xã hội và sự tương đồng về ý thức hệ xã hội chủ nghĩa giữa hai nước trong việc giảm thiểu rào cản thích ứng văn hóa của người học và tạo nền tảng hợp tác bền vững.
  5. Khái niệm và tư tưởng giáo dục: Khái niệm giáo dục theo Bách khoa thư Britannica, khái niệm hợp tác quốc tế theo Từ điển tiếng Việt; tổng hợp tư tưởng giáo dục của Platon, Khổng Tử, C. Mác, Ph. Ăngghen, Chu Văn An và Hồ Chí Minh.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic: Tái hiện tiến trình vận động cụ thể của quan hệ giáo dục theo các mốc thời gian, kết hợp rút ra các đặc điểm và quy luật mang tính bản chất.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh chính sách giáo dục hai nước trước và sau đổi mới/cải cách mở cửa; so sánh cơ cấu thực tập sinh, lưu học sinh qua các thời kỳ.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý và tổng hợp số liệu về số lượng sinh viên, cơ cấu ngành học, địa bàn phân bố, số lượng học bổng và quy mô kim ngạch thương mại.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn các nhân chứng lịch sử gồm cán bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo, cán bộ phụ trách quản lý lưu học sinh, cựu lưu học sinh và cựu thực tập sinh từng học tập tại Trung Quốc.
  • Phương pháp phân tích SWOT: Đánh giá điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threats) trong quan hệ hợp tác giáo dục song phương.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  1. Tư liệu gốc lưu trữ:
    • Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (Việt Nam): Phông Phủ Thủ tướng, Phông Bộ Giáo dục, Phông Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Phông Ủy ban Kế hoạch Nhà nước.
    • Trung tâm Lưu trữ thành phố Thượng Hải (Trung Quốc): Khoảng 800 trang tư liệu gốc về thực tập sinh Việt Nam giai đoạn 1960–1975.
  2. Văn kiện và báo cáo chính thức: Hiệp định, tuyên bố chung, thỏa thuận hợp tác được công bố trên báo Nhân dân, cổng thông tin của Bộ Ngoại giao và Bộ Giáo dục hai nước; các báo cáo tổng kết của các cơ quan quản lý giáo dục.
  3. Tài liệu thứ cấp: Các công trình chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, sách và bài báo khoa học bằng tiếng Việt, tiếng Trung và tiếng Anh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước về quan hệ Việt – Trung và hợp tác giáo dục hai nước; làm rõ khoảng trống nghiên cứu cần giải quyết. Chương này xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên Chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ nghĩa hiện thực, Chủ nghĩa tự do, Chủ nghĩa kiến tạo và các khái niệm về hợp tác giáo dục quốc tế.

Chương 2: Quan hệ hợp tác giáo dục Việt Nam – Trung Quốc từ 1950 đến 1979

Chương 2 phân tích bối cảnh lịch sử, chính trị, các nhân tố bên trong và bên ngoài tác động đến chủ trương hợp tác giáo dục thời kỳ 1950–1979. Luận án trình bày chi tiết việc thành lập Khu học xá Trung ương (Quảng Tây Nam Ninh Dục tài Học hiệu) và tình hình Việt Nam cử sinh viên, thực tập sinh sang học tập tại các trường đại học lớn của Trung Quốc (như Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa, Đại học Nhân dân, Đại học Vũ Hán, Đại học Giao thông Thượng Hải). Đồng thời, chương này phân tích chủ trương của Trung Quốc và tình hình gửi sinh viên sang học tập chuyên ngành tiếng Việt, lịch sử và văn học Việt Nam tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Dưới đây là tổng hợp hệ thống số liệu và tư liệu thống kê giai đoạn 1950–1979 được phản ánh trong các bảng dữ liệu của luận án:

Bảng trong luận án Tên bảng số liệu Nội dung dữ liệu chính
Bảng 1 Số lượng sinh viên đi học đại học ở Trung Quốc từ trước năm 1953 – 1960 Thống kê số lượng lưu học sinh đại học được cử sang các cơ sở đào tạo Trung Quốc giai đoạn đầu kháng chiến và hòa bình lập lại
Bảng 2 Số lượng sinh viên đại học từ Trung Quốc trở về từ 1955 – 1959 Tổng hợp số lượng cán bộ, chuyên gia hoàn thành chương trình về nước phục vụ kiến thiết miền Bắc
Bảng 3 Số lượng thực tập sinh Việt Nam phân bố tại các địa phương của Trung Quốc từ 1965 – 1971 Phân bố địa bàn đào tạo tay nghề, kỹ thuật của thực tập sinh tại các nhà máy, trường kỹ thuật Trung Quốc
Bảng 4 Phân bố thực tập sinh Việt Nam tại các địa phương từ 1975 – 1978 Thống kê biến động địa bàn thực tập sinh kỹ thuật giai đoạn sau thống nhất đất nước
Bảng 5 So sánh số lượng thực tập sinh có từ 1965 – 1971 và 1975 – 1978 học ở các địa phương Trung Quốc Đối chiếu cơ cấu và quy mô tiếp nhận thực tập sinh giữa hai giai đoạn chiến tranh và sau chiến tranh

(Các biểu đồ đi kèm chương: Biểu đồ 1 thống kê số lượng thực tập sinh đào tạo nghề Việt Nam tại Trung Quốc từ 1966 đến 1978).

Chương 3: Quan hệ giao lưu và hợp tác giáo dục giữa Việt Nam – Trung Quốc từ 1980 đến nay

Chương 3 tập trung phân tích quan hệ hợp tác giáo dục trong bối cảnh công cuộc Đổi mới ở Việt Nam (từ 1986, coi giáo dục là "quốc sách hàng đầu") và Cải cách mở cửa ở Trung Quốc (từ 1978, chiến lược "Khoa giáo hưng quốc"). Giai đoạn từ sau bình thường hóa quan hệ năm 1991 chứng kiến sự bùng nổ về số lượng lưu học sinh, sự phát triển của các chương trình học bổng chính phủ và sự hình thành các mô hình liên kết đào tạo mới.

Các bảng và biểu đồ số liệu minh chứng trong chương 3 gồm:

Bảng trong luận án Tên bảng số liệu Nội dung dữ liệu chính
Bảng 6 So sánh các chính sách quốc gia về giáo dục trước và sau đổi mới Đối chiếu sự chuyển đổi thể chế, cơ chế quản lý và tài chính giáo dục
Bảng 7 So sánh một số khía cạnh cơ bản trong chính sách giáo dục Việt Nam và Trung Quốc Phân tích nét tương đồng và khác biệt về chiến lược phát triển nguồn nhân lực giữa hai nước
Bảng 8 Các trường đại học/học viện Trung Quốc có mở chương trình đào tạo tiếng Việt Danh mục các cơ sở đào tạo tiếng Việt tại Trung Quốc phục vụ nhu cầu giao lưu, đối ngoại
Bảng 9 Các trường đại học và cao đẳng có đào tạo tiếng Trung Quốc tại Việt Nam Thống kê hệ thống các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng giảng dạy tiếng Trung tại Việt Nam
Bảng 10 Số lượng lưu học sinh Việt Nam du học tại Trung Quốc từ 2004 – 2016 (Đơn vị: Nghìn người) Thống kê quy mô du học sinh Việt Nam tại Trung Quốc (từ năm 2008 duy trì mức trên 10.000 người/năm)
Bảng 11 Tổng kim ngạch thương mại Việt Nam – Trung Quốc từ 2004 – 2016 Dữ liệu tăng trưởng thương mại song phương đặt cạnh quy mô lưu học sinh
Bảng 12 Tổng số lưu học sinh Trung Quốc theo học chương trình 3+1 Trường ĐH KHXH&NV theo từng năm Dữ liệu triển khai mô hình liên kết đào tạo 3+1 ngành Ngôn ngữ học tại ĐH KHXH&NV Hà Nội

(Các biểu đồ đi kèm: Biểu đồ 2 về tình hình du học Trung Quốc 2004–2017; Biểu đồ 3 về số lượng học bổng Chính phủ Trung Quốc theo năm; Biểu đồ 4 về tương quan giữa lưu học sinh và kim ngạch xuất nhập khẩu; Biểu đồ 5 về lưu học sinh Trung Quốc học mô hình 3+1 tại Khoa Ngôn ngữ học từ 2003 đến 2018).

Chương 4: Một số nhận xét về quan hệ giao lưu và hợp tác giáo dục Việt Nam – Trung Quốc từ năm 1950 đến nay

Chương 4 đúc kết vai trò của giáo dục như một kênh ngoại giao nhân dân và cầu nối quan trọng trong tổng thể quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện; xác định các đặc điểm vận động của mối quan hệ qua 68 năm.

Nội dung phân tích SWOT của chương gồm:

  • Điểm mạnh (Strengths): Vị trí địa lý liền kề; sự tương đồng về văn hóa, thể chế chính trị và hệ tư tưởng; chi phí học tập hợp lý; sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao hai nước.
  • Điểm yếu (Weaknesses): Cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa thực sự cân đối; công tác quản lý lưu học sinh tự túc còn nhiều bất cập; việc công nhận văn bằng, chứng chỉ tương đương còn gặp vướng mắc; chất lượng đào tạo không đồng đều giữa các cơ sở tiếp nhận.
  • Thách thức (Threats): Sự cạnh tranh thu hút du học sinh từ các nền giáo dục phát triển (Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc); tác động từ những biến động trong quan hệ chính trị, vấn đề biên giới lãnh thổ; nguy cơ chảy máu chất xám hoặc bất đồng ngôn ngữ, văn hóa chuyên sâu.
  • Triển vọng và giải pháp: Mở rộng hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành khoa học công nghệ, kỹ thuật; tăng cường quản lý chất lượng đào tạo và công nhận văn bằng; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học chung; phát huy vai trò liên kết giữa các trường đại học khu vực biên giới và lưu vực sông Hồng.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt học thuật và tư liệu: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên ở Việt Nam tái hiện bức tranh toàn diện về tiến trình giao lưu và hợp tác giáo dục Việt Nam – Trung Quốc từ năm 1950 đến năm 2018. Luận án khai thác, xử lý và công bố nhiều nguồn tư liệu gốc quan trọng từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (Việt Nam) và Trung tâm Lưu trữ thành phố Thượng Hải (Trung Quốc, khoảng 800 trang tư liệu về thực tập sinh).
  2. Về mặt lý luận: Bổ sung khung lý thuyết quan hệ quốc tế liên ngành (kết hợp Chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ nghĩa hiện thực, Chủ nghĩa tự do và Chủ nghĩa kiến tạo) để phân tích các yếu tố chi phối chính sách giáo dục song phương, chỉ ra vai trò của giáo dục trong việc củng cố lòng tin chính trị và phát triển sức mạnh mềm.
  3. Về mặt thực tiễn: Luận án hệ thống hóa toàn bộ các chủ trương, hiệp định, thỏa thuận hợp tác và mô hình đào tạo cụ thể (đặc biệt là mô hình 3+1, đào tạo thực tập sinh nghề, cấp học bổng chính phủ); đánh giá khách quan thành tựu và hạn chế qua từng thời kỳ; cung cấp cơ sở khoa học và đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách hợp tác giáo dục của Việt Nam với Trung Quốc trong giai đoạn mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi không gian ở Trung Quốc đại lục, chưa nghiên cứu so sánh đối chiếu với các vùng lãnh thổ Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan. Về nội dung, luận án tập trung chủ yếu vào giáo dục đại học, đào tạo cán bộ, thực tập sinh và nghiên cứu sinh mà chưa đi sâu vào mảng giáo dục phổ thông hay giáo dục mầm non; mảng hoạt động giao lưu giáo dục mới chỉ được khảo sát từ đầu những năm 2000.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sang quan hệ hợp tác giáo dục nghề nghiệp chuyên sâu; nghiên cứu cơ chế hợp tác giữa các trường đại học địa phương khu vực biên giới; nghiên cứu đánh giá hiệu quả đóng góp thực tế của lực lượng cựu lưu học sinh sau khi trở về nước tham gia vào các ngành kinh tế - xã hội.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Cơ quan hoạch định chính sách: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương trong việc xây dựng, điều chỉnh các hiệp định hợp tác giáo dục và chiến lược quản lý lưu học sinh song phương.
  • Cơ sở giáo dục đại học: Các trường đại học đang triển khai chương trình liên kết đào tạo (như mô hình 3+1), các khoa/bộ môn đào tạo tiếng Trung, tiếng Việt cho người nước ngoài, Đông phương học và Quốc tế học.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Những người nghiên cứu chuyên sâu về Trung Quốc học, Lịch sử quan hệ quốc tế, Lịch sử ngoại giao Việt Nam và Lịch sử giáo dục.

Câu hỏi thường gặp

1. Vai trò của Khu học xá Trung ương (Quảng Tây Nam Ninh Dục tài Học hiệu) trong lịch sử hợp tác giáo dục hai nước là gì?
Khu học xá Trung ương thành lập tại Nam Ninh (Quảng Tây, Trung Quốc) trong thập niên 1950 là cơ sở giáo dục đặc biệt do Trung Quốc hỗ trợ xây dựng và bảo đảm điều kiện để đào tạo hàng ngàn học sinh, cán bộ giáo dục cho Việt Nam phục vụ công cuộc kháng chiến và kiến quốc, đặt nền móng cho hợp tác giáo dục đại học giữa hai nước.

2. Nguồn tư liệu lưu trữ gốc chính được tác giả khai thác gồm những nguồn nào?
Luận án sử dụng nguồn tư liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (gồm Phông Phủ Thủ tướng, Phông Bộ Giáo dục, Phông Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Phông Ủy ban Kế hoạch Nhà nước) và khoảng 800 trang tư liệu gốc từ Trung tâm Lưu trữ thành phố Thượng Hải về thực tập sinh Việt Nam giai đoạn 1960–1975.

3. Các lý thuyết quan hệ quốc tế nào được sử dụng làm khung phân tích trong luận án?
Luận án sử dụng 4 lý thuyết quan hệ quốc tế chính: Chủ nghĩa Mác – Lênin (đoàn kết quốc tế vô sản), Chủ nghĩa hiện thực (tương quan nước lớn - nước nhỏ, quyền lực mềm), Chủ nghĩa tự do (sự phụ thuộc lẫn nhau, hội nhập quốc tế) và Chủ nghĩa kiến tạo (vai trò của chuẩn mực văn hóa, bản sắc và ý thức hệ).

4. Mô hình đào tạo 3+1 giữa các trường đại học hai nước được triển khai như thế nào?
Mô hình 3+1 là hình thức liên kết đào tạo trong đó sinh viên học 3 năm tại trường đại học ở nước sở tại và 1 năm học tập tại trường đại học đối tác (điển hình như lưu học sinh Trung Quốc học 1 năm ngành Ngôn ngữ học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội), giúp người học nâng cao trình độ thực hành tiếng và trải nghiệm văn hóa bản địa.

5. Quy mô lưu học sinh Việt Nam du học tại Trung Quốc từ năm 2008 đến 2016 đạt mức nào?
Theo số liệu thống kê tại Bảng 10 của luận án, từ năm 2008 trở đi, số lượng lưu học sinh Việt Nam theo học tại các trường đại học, viện nghiên cứu của Trung Quốc duy trì ở mức trên 10.000 người mỗi năm.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Minh Hải đã dựng lại một cách toàn diện và có hệ thống tiến trình 68 năm (1950–2018) giao lưu và hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thông qua việc kết hợp các khung lý thuyết quan hệ quốc tế với nguồn tư liệu lưu trữ phong phú của cả hai nước, công trình đã làm rõ các giai đoạn phát triển, động lực chính trị - kinh tế, cũng như đặc điểm của các mô hình đào tạo song phương. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần lấp đầy khoảng trống học thuật trong chuyên ngành Trung Quốc học mà còn cung cấp những căn cứ khoa học thực tiễn giá trị cho việc hoạch định chính sách đối ngoại và phát triển giáo dục đại học giữa hai quốc gia trong giai đoạn hiện nay.