Luận văn thạc sĩ hợp tác asean về an ninh môi trường 1999 2015 luận văn ths khoa học chính trị 623102

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hợp tác asean về an ninh môi trường 1999 2015 luận văn ths khoa học chính trị 623102, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quan hệ quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

216
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1.4. NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

1.6. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

2. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

2.1. Nghiên cứu về an ninh môi trường và hợp tác về an ninh môi trường trong quan hệ quốc tế

2.2. Nghiên cứu về an ninh môi trường. Mối liên hệ giữa môi trường với xung đột và hợp tác trong quan hệ quốc tế

2.3. Nghiên cứu về an ninh môi trường và hợp tác về an ninh môi trường ở khu vực ASEAN

2.4. Khái niệm an ninh môi trường ở Đông Nam Á

2.5. Thực trạng an ninh môi trường ở Đông Nam Á. Hợp tác ASEAN về an ninh môi trường và đánh giá quá trình hợp tác

3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỢP TÁC ASEAN VỀ AN NINH MÔI TRƯỜNG (1999-2015)

3.1. Khái niệm an ninh môi trường

3.2. Cơ sở lý luận của hợp tác về an ninh môi trường ở Đông Nam Á

3.3. Cơ sở chính trị và pháp lý

3.4. Cơ sở thực tiễn

3.5. Thực trạng môi trường ở Đông Nam Á

3.6. Mối quan hệ giữa các vấn đề môi trường và an ninh ở Đông Nam Á

3.7. Một số vấn đề đe dọa an ninh môi trường xuyên biên giới chủ yếu ở Đông Nam Á

3.8. Hợp tác ASEAN về an ninh môi trường trước năm 1999

4. CƠ CHẾ VÀ HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC VỀ AN NINH MÔI TRƯỜNG CỦA ASEAN (1999-2015)

4.1. Cơ chế hợp tác ASEAN về an ninh môi trường (1999-2015)

4.2. Mục tiêu của hợp tác trong ASEAN về an ninh môi trường (1999-2015)

4.3. Các khuôn khổ hợp tác về an ninh môi trường chính của ASEAN (1999-2015)

4.4. Hợp tác nội khối ASEAN về an ninh môi trường (1999-2015)

4.5. Hoạt động hợp tác nội khối ASEAN về an ninh môi trường (1999-2015)

4.6. Hợp tác ASEAN về ô nhiễm khói mù xuyên biên giới

4.7. Hợp tác ASEAN về an ninh nguồn nước ở Tiểu vùng sông Mêkông

4.8. Hợp tác về an ninh môi trường của ASEAN với các đối tác bên ngoài khu vực

4.9. Hợp tác đảm bảo an ninh môi trường của ASEAN với các tổ chức quốc tế đa phương và toàn cầu

4.10. Hợp tác đảm bảo an ninh môi trường của ASEAN với các đối tác ở Đông Á

5. ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH HỢP TÁC ASEAN VỀ AN NINH MÔI TRƯỜNG (1999-2015)

5.1. Thành tựu, hạn chế và đặc điểm của quá trình hợp tác ASEAN về an ninh môi trường

5.1.1. Thành tựu của quá trình hợp tác

5.1.2. Hạn chế và thách thức trong quá trình hợp tác

5.1.3. Đặc điểm của hợp tác ASEAN về an ninh môi trường

5.2. Tác động của hợp tác ASEAN về an ninh môi trường

5.2.1. Tác động đến môi trường ASEAN

5.2.2. Tác động đến hợp tác trong các lĩnh vực an ninh khác của ASEAN

5.3. Một số đề xuất nhằm tăng cường hợp tác ASEAN về an ninh môi trường

5.3.1. Tăng cường trách nhiệm của ASEAN và cam kết của các nước thành viên về hợp tác đảm bảo an ninh môi trường

5.3.2. Cải thiện hiệu quả hoạt động và sự phối hợp giữa các cơ quan

5.3.3. Hỗ trợ các quốc gia thành viên giải quyết các trở ngại bên trong

5.4. Sự tham gia của Việt Nam vào hợp tác ASEAN về an ninh môi trường. Những đóng góp của Việt Nam vào hợp tác ASEAN về an ninh môi trường

5.5. Triển vọng của Việt Nam trong hợp tác ASEAN về an ninh môi trường

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Hợp tác ASEAN về An ninh Môi trường 1999 2015

Hợp tác ASEAN về an ninh môi trường từ năm 1999 đến 2015 đã trở thành một phần quan trọng trong chính sách môi trường của các quốc gia thành viên. Thời kỳ này chứng kiến sự gia tăng nhận thức về tầm quan trọng của an ninh môi trường trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu. Các quốc gia ASEAN đã nhận ra rằng các vấn đề môi trường không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững mà còn tác động trực tiếp đến an ninh quốc gia. Hợp tác này không chỉ nhằm giải quyết các vấn đề môi trường nội bộ mà còn hướng tới việc ứng phó với các thách thức xuyên biên giới.

1.1. Khái niệm An ninh Môi trường trong bối cảnh ASEAN

An ninh môi trường được hiểu là sự bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái khỏi các tác động tiêu cực. Trong bối cảnh ASEAN, khái niệm này bao gồm các vấn đề như ô nhiễm, biến đổi khí hậu và quản lý tài nguyên nước. Việc hiểu rõ khái niệm này là cần thiết để xây dựng các chính sách hợp tác hiệu quả.

1.2. Lịch sử hình thành Hợp tác ASEAN về An ninh Môi trường

Hợp tác ASEAN về an ninh môi trường bắt đầu từ những năm 1977 với các cơ chế hợp tác ban đầu. Tuy nhiên, từ năm 1999, khi ASEAN có đủ 10 thành viên, các cơ chế này đã được củng cố và mở rộng, tạo ra nền tảng vững chắc cho các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực môi trường.

II. Các Thách thức trong Hợp tác ASEAN về An ninh Môi trường 1999 2015

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong hợp tác, nhưng ASEAN vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc đảm bảo an ninh môi trường. Các vấn đề như ô nhiễm không khí, quản lý tài nguyên nước và biến đổi khí hậu đã trở thành những thách thức lớn. Sự khác biệt về chính sách và mức độ phát triển giữa các quốc gia thành viên cũng tạo ra rào cản trong việc hợp tác hiệu quả.

2.1. Ô nhiễm không khí và các vấn đề xuyên biên giới

Ô nhiễm không khí, đặc biệt là khói mù xuyên biên giới, đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong khu vực ASEAN. Các quốc gia như Indonesia, Malaysia và Thái Lan đã phải đối mặt với tình trạng này, gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và môi trường.

2.2. Quản lý tài nguyên nước và xung đột

Quản lý tài nguyên nước là một trong những thách thức lớn nhất trong hợp tác ASEAN. Các quốc gia trong khu vực thường xuyên tranh chấp về quyền sử dụng nguồn nước, đặc biệt là ở các tiểu vùng như sông Mêkông. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến an ninh môi trường mà còn đến an ninh lương thực.

III. Phương pháp Hợp tác ASEAN về An ninh Môi trường 1999 2015

Để đối phó với các thách thức về an ninh môi trường, ASEAN đã áp dụng nhiều phương pháp hợp tác khác nhau. Các cơ chế hợp tác đa phương và song phương đã được thiết lập nhằm tăng cường sự phối hợp giữa các quốc gia thành viên. Các chương trình như ASEAN Agreement on Transboundary Haze Pollution đã được triển khai để giải quyết vấn đề ô nhiễm khói mù.

3.1. Cơ chế hợp tác đa phương

Cơ chế hợp tác đa phương trong ASEAN đã cho phép các quốc gia thành viên cùng nhau giải quyết các vấn đề môi trường. Các hội nghị cấp cao và các cuộc họp thường niên đã tạo ra nền tảng cho việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm.

3.2. Hợp tác với các đối tác bên ngoài

ASEAN cũng đã mở rộng hợp tác với các đối tác bên ngoài như Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc. Các chương trình hợp tác này không chỉ giúp tăng cường năng lực quản lý môi trường mà còn tạo ra cơ hội cho việc chia sẻ công nghệ và kinh nghiệm.

IV. Ứng dụng thực tiễn và Kết quả nghiên cứu về Hợp tác ASEAN 1999 2015

Các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực an ninh môi trường đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho khu vực ASEAN. Việc triển khai các chương trình hợp tác đã giúp nâng cao nhận thức về an ninh môi trường và tạo ra các chính sách hiệu quả hơn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để đảm bảo sự bền vững trong hợp tác.

4.1. Thành tựu trong hợp tác môi trường

Một số thành tựu đáng kể trong hợp tác môi trường của ASEAN bao gồm việc giảm thiểu ô nhiễm không khí và cải thiện chất lượng nước. Các chương trình hợp tác đã giúp các quốc gia thành viên nâng cao năng lực quản lý môi trường.

4.2. Đánh giá hiệu quả hợp tác

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng hiệu quả của các cơ chế hợp tác vẫn còn hạn chế. Sự khác biệt trong chính sách và mức độ cam kết giữa các quốc gia thành viên là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

V. Kết luận và Triển vọng tương lai của Hợp tác ASEAN về An ninh Môi trường

Hợp tác ASEAN về an ninh môi trường từ năm 1999 đến 2015 đã tạo ra những bước tiến quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề môi trường. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả bền vững, cần có sự cam kết mạnh mẽ hơn từ các quốc gia thành viên. Triển vọng tương lai của hợp tác này phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các thách thức mới và sự phối hợp chặt chẽ giữa các quốc gia.

5.1. Đề xuất chính sách cho hợp tác hiệu quả hơn

Cần xây dựng các chính sách hợp tác rõ ràng và cụ thể hơn để tăng cường hiệu quả của các cơ chế hợp tác. Việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm giữa các quốc gia thành viên cũng cần được thúc đẩy.

5.2. Tương lai của Hợp tác ASEAN về An ninh Môi trường

Triển vọng tương lai của hợp tác ASEAN về an ninh môi trường sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các thách thức mới như biến đổi khí hậu và ô nhiễm. Sự cam kết mạnh mẽ từ các quốc gia thành viên sẽ là yếu tố quyết định cho sự thành công của hợp tác này.

19/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan lịch sử nghiên cứu Chƣơng này sẽ tổng hợp, phân tích và đánh giá các nguồn tài liệu trong nƣớc và nƣớc ngoài nghiên cứu về khái niệm an ninh môi trƣờng trên thế giới, ở Đông Nam Á và ở Việt Nam; thực trạng môi trƣờng ở Đông Nam Á; mối liên hệ giữa môi trƣờng với an ninh khu vực; sự cần thiết của hợp tác khu vực trong đảm bảo an ninh môi trƣờng; và quá trình hợp tác của ASEAN về an ninh môi trƣờng qua các thời kỳ. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của hợp tác ASEAN về an ninh môi trƣờng Chƣơng này sẽ tập trung giải quyết các vấn đề: An ninh môi trƣờng đƣợc tiếp cận và nhận định về mặt lý thuyết nhƣ thế nào? ASEAN có quan điểm nhƣ thế nào về an ninh nói chung và an ninh môi trƣờng nói riêng? Các vấn đề môi trƣờng có quan hệ nhƣ thế nào với an ninh ở Đông Nam Á? Những vấn đề gây mất an ninh môi trƣờng chủ yếu ở Đông Nam Á là gì? Hợp tác ASEAN trong các giai đoạn trƣớc năm 1999 diễn ra nhƣ thế nào? 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 3: Cơ chế và hoạt động hợp tác về an ninh môi trƣờng của ASEAN (1999-2015) Nội dung của chƣơng này sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau: Hoạt động hợp tác về an ninh môi trƣờng của ASEAN trong giai đoạn này nhằm những mục tiêu gì? Hợp tác nội khối của ASEAN trong các vấn đề an ninh môi trƣờng trong giai đoạn 1999-2015 đã có những tiến triển gì về mặt thể chế và pháp lý? Hợp tác ASEAN về an ninh môi trƣờng thể hiện nhƣ thế nào qua các trƣờng hợp hợp tác cụ thể? Hợp tác của ASEAN với các tổ chức đa phƣơng, toàn cầu và các đối tác diễn ra nhƣ thế nào và đã đạt đƣợc những thành tựu chủ yếu nào? Chƣơng 4: Đánh giá quá trình hợp tác ASEAN về an ninh môi trƣờng (1999-2015) Chƣơng này sẽ tập trung đánh giá hoạt động hợp tác về an ninh môi trƣờng của ASEAN trong giai đoạn 1999-2015 thông qua việcphân tích các thành tựu và hạn chế của các cơ chế hợp tác trong và ngoài khối. Từ đó, ngƣời viết sẽ đƣa ra một số đề xuất nhằm nâng cao tính hiệu quả của quá trình hợp tác. Quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN về an ninh môi trƣờng cũng đƣợc trình bày và đánh giá trong chƣơng này.

8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về an ninh môi trƣờng và hợp tác về an ninh môi trƣờng trong quan hệ quốc tế 1. Nghiên cứu về an ninh môi trường Kể từ những năm 1960, tại các nƣớc phát triển, ngƣời ta bắt đầu quan tâm đến chất lƣợng của môi trƣờng sống. Một thập niên sau đó, vấn đề môi trƣờng đƣợc coi là chính thức nổi lên sau Tuyên bố của Liên hợp quốc về môi trƣờng và phát triển tại Stockholm tháng 6 năm 1972 với sự ra đời của Chƣơng trình môi trƣờng Liên hợp quốc (UNEP)1.

Đến giữa những năm 1980, chƣơng trình nghị sự về môi trƣờng chính thức đƣợc thiết lập với một dấu mốc quan trọng - „môi trƣờng‟ là chủ đề của một chƣơng trong Báo cáo Brundtland năm 19872. Tuy nhiên, những thảo luận về „an ninh môi trƣờng‟ chỉ thực sự thu hút sự quan tâm, chú ý từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc. Một trong những nghiên cứu điển hình về sự phát triển của khái niệm „an ninh môi trƣờng‟ là luận thuyết của Carsten Ronnfedt (1997) về “Three Generations of Environmental and Security Research” (Ba thế hệ nghiên cứu môi trƣờng và an ninh). Carsten Ronnfedt (1997) đã đƣa ra ba giai đoạn (ông gọi là ba thế hệ) phát triển của khái niệm này: Giai đoạn thứ nhất trong thập niên 1980 nói đến sự xâm nhập của các vấn đề môi trƣờng vào các nghiên cứu về an ninh; Giai đoạn thứ hai trong thập niên 1990 đề cập đến mối quan hệ giữa môi trƣờng và xung đột; Giai đoạn thứ ba là từ cuối những năm 1990 đến nay với sự mở rộng cả về nội dung và đối tƣợng trong nghiên cứu về an ninh môi trƣờng.

Nghiên cứu về an ninh môi trƣờng và sự cần thiết của hợp tác khu vực về an ninh môi trƣờng tập trung vào ba hƣớng chính sau: An ninh môi trƣờng là một lĩnh vực an ninh phi truyền thống; mối liên hệ giữa môi trƣờng với xung đột và hợp tác trong quan hệ quốc tế và các cách hiểu và phƣơng pháp nghiên cứu mới về an ninh môi trƣờng. An ninh môi trƣờng là một lĩnh vực an ninh phi truyền thống Những tác giả đầu tiên đƣa các vấn đề môi trƣờng vào nghiên cứu về an ninh trên thế giới có thể kể đến Richard Ullman (1983), Homer-Dixon (1991, 1996, 1 Chƣơng trình môi trƣờng Liên hợp quốc (UNEP) là cơ quan của Liên hợp quốc chuyên điều phối các hoạt động môi trƣờng, hỗ trợ các nƣớc đang phát triển thực hiện các chính sách và cách làm đúng đắn về môi trƣờng. 2 Báo cáo Brundtland hay Báo cáo “Our Common Future” (Tƣơng lai chung của chúng ta) do Ủy ban Brundtland công bố năm 1987, đƣợc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua trong phiên họp thứ 42. Đây là một trong những tài liệu đầu tiên nêu ra và xác định khái niệm „phát triển bền vững‟.

Báo cáo cho rằng các vấn đề môi trƣờng phải đƣợc đặt trong chƣơng trình nghị sự chính trị toàn cầu và coi môi trƣờng và phát triển phải đƣợc quan tâm cùng lúc. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1999) hay Norman Myers (1989). Theo các tác giả này, khái niệm an ninh truyền thống cần đƣợc mở rộng vƣợt ra khỏi giới hạn an ninh quân sự và cần bao gồm các vấn đề an ninh mới nhƣ an ninh môi trƣờng. Nghiên cứu “Redefining Security” (Định nghĩa lại an ninh) của Ullman xuất bản năm 1983 thƣờng đƣợc coi là nghiên cứu tiên phong đóng vai trò thay đổi khái niệm an ninh hƣớng tới bao gồm yếu tố môi trƣờng.

Quan điểm chính của Ullman là những nhân tố phi quân sự, trong đó có các vấn đề môi trƣờng, có nguy cơ gây hại đến an ninh quốc gia tƣơng đƣơng hay thậm chí cao hơn so với các mối đe dọa an ninh „thông thƣờng‟. Theo ông, điều này dẫn đến yêu cầu cần thiết phải thay đổi chính sách an ninh bởi các yếu tố phi quân sự „có thể trở nên khó kiểm soát hơn và dễ dàng tăng lên hơn‟ [Ullman 1983, 153]. Richard Ullman đƣợc coi là ngƣời đầu tiên đƣa ra một khái niệm cô đọng, bao quát về an ninh phi truyền thống. Ông cho rằng “an ninh quốc gia không nên hiểu theo nghĩa hẹp là bảo vệ nhà nước trước những cuộc tấn công quân sự qua biên giới lãnh thổ mà an ninh quốc gia còn phải đối mặt với những thách thức phi truyền thống, bao gồm: khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia có tổ chức, an ninh môi trường, di cư bất hợp pháp, an ninh năng lượng và an ninh con người.” [Ullman 1983, 153] Mặc dù Ullman và Myers có cách diễn giải và nhìn nhận khá rộng về an ninh môi trƣờng và cách tiếp cận đối với khái niệm này, họ đều lựa chọn đặt an ninh môi trƣờng trong khuôn khổ các vấn đề nghị sự thuộc an ninh quốc gia.

Sở dĩ nhƣ vậy bởi trong bối cảnh Chiến tranh lạnh, khi mà mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia vẫn là sự tồn vong của mình và an ninh quân sự thì tiếng nói của họ về một khái niệm nhƣ an ninh môi trƣờng sẽ có thể đƣợc chú ý hơn nếu họ vẫn tập trung vào vai trò trung tâm của quốc gia đối với an ninh. Bắt đầu xuất hiện vào những năm 1980 nhƣng phải đến sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khái niệm „an ninh phi truyền thống‟ mới đặc biệt giành đƣợc sự quan tâm, chú ý. Sau Chiến tranh lạnh, vai trò của an ninh quân sự - an ninh truyền thống giảm xuống, thế giới phải đối mặt với nhiều yếu tố mới đe dọa đến an ninh nhƣ khủng bố, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, suy thoái môi trƣờng, tội phạm xuyên quốc gia. Sau Ullman, các học giả và các nhà nghiên cứu về an ninh không phủ nhận sự nổi lên và tác động của các vấn đề an ninh phi truyền thống.

Tuy nhiên, có sự khác biệt khá lớn trong quan điểm về phạm vi các vấn đề và mức độ tác động của chúng. Đa phần các nhà nghiên cứu đều cho rằng an ninh môi trƣờng hay các khía cạnh của nó là một trong những vấn đề an ninh phi truyền thống đáng lƣu tâm nhất bởi mức độ và phạm vi ảnh hƣởng rộng lớn của nó. Mely Caballero Anthony định 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghĩa an ninh phi truyền thống là “thách thức đối với sự tồn vong và thịnh vượng của các quốc gia, dân tộc, xuất hiện chủ yếu trong các nguồn phi quân sự, chẳng hạn như thay đổi khí hậu, suy thoái môi trường xuyên biên giới và nguồn tài nguyên cạn kiệt, bệnh truyền nhiễm, thiên tai, di cư bất hợp pháp, tình trạng thiếu lương thực, buôn lậu, buôn bán ma túy và các hình thức khác của tội phạm xuyên quốc gia.1] Hay Amitav Acharaya định nghĩa an ninh phi truyền thống là “các thách thức đối với sự tồn vong và chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời và nhà nƣớc có nguồn gốc phi quân sự nhƣ thay đổi khí hậu, khan hiếm nguồn lực, bệnh dịch, thiên tai, di cƣ không kiểm soát, thiếu lƣơng thực, buôn ngƣời, buôn ma túy và tội phạm có tổ chức. Thừa nhận tính nghiêm trọng của các vấn đề môi trƣờng, tác giả Vƣơng Dật Châu lại sử dụng cụm từ an ninh sinh thái để nói đến mối quan hệ và tác động của môi trƣờng đối với an ninh.

Theo ông, an ninh môi trƣờng và an ninh sinh thái cơ bản là cùng một khái niệm nhƣng an ninh sinh thái có nội hàm rộng hơn khi đề cập đến phạm vi rộng lớn các vấn đề từ ô nhiễm môi trƣờng đến thiếu hụt tài nguyên hay xung đột. Trong khi đó, an ninh môi trƣờng chỉ đề cập đến mối liên hệ giữa sự thoái hóa của môi trƣờng với khả năng bùng nổ các xung đột bạo lực trong nƣớc hay xuyên biên giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ