Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỢP TÁC ASEAN NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI VÀ XU HƯỚNG HỢP TÁC KHU VỰC Ở ĐÔNG NAM Á 1. NHỮNG NHÂN TỐ QUỐC TẾ 1. Sự thay đổi của cục diện thế giới những năm đầu thế kỷ XXI Thế giới bước vào thế kỷ XXI với nhiều thay đổi lớn so với thập niên cuối cùng của thế kỷ XX (kể từ khi trật tự thế giới hai cực chấm dứt). Cục diện thế giới đang nghiêng về hướng đa cực theo một cơ cấu quyền lực một siêu cường và một số cường quốc chủ chốt như Trung Quốc, Nga, EU, Nhật Bản… chi phối các vấn đề quan trọng của thế giới, định đoạt nhiều quy tắc, luật lệ quốc tế bằng sức vượt trội cả về kinh tế, quân sự, mà trong đó nổi lên hàng đầu là vai trò của Mỹ.
Các nước G7 đang thâu tóm nền kinh tế thế giới thông qua các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế như IMF, WB, WTO… Những mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tiếp tục tồn tại nhưng hình thức và nội dung có sự thay đổi. Các nước đang phát triển, các lực lượng dân chủ tiến bộ ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống quốc tế, là lực lượng tích cực trong cuộc đấu tranh thiết lập trật tự thế giới mới bình đẳng, dân chủ, hợp tác và phát triển bền vững. Triệt để lợi dụng ưu thế trong so sánh lực lượng sau chiến tranh lạnh, Mỹ tỏ rõ tham vọng độc tôn "lãnh đạo" thế giới. Đặc biệt, từ khi G.Bush trở thành tổng thống (2000), chính quyền Mỹ càng ráo riết thi hành một chính sách đơn phương mang nặng tính vị kỷ, bất chấp sự phản đối của nhiều nước lớn và cộng đồng quốc tế.
Sự kiện nước Mỹ bị tấn công khủng bố 11-9-2001 đã đặt hoà bình, an ninh thế giới trong tình trạng bất ổn lớn, nhiều mối quan hệ quốc tế bị đảo lộn. Chính quyền G.Bush đã khai thác triệt để sự kiện 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này nhằm đem lại lợi thế cho vai trò "lãnh đạo" của Mỹ, một loạt phương châm hành động với những mục tiêu mới đã được đưa ra. Đối với các nước lớn, một mặt Mỹ có đối sách kiềm chế các đối thủ không để vươn lên đe doạ vị trí siêu cường số 1 của Mỹ, đồng thời có sách lược xoa dịu, nhân nhượng nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các nước lớn trong nhiều vấn đề quốc tế để Mỹ đạt được mục đích. Đối với Liên hợp quốc, Mỹ vừa lợi dụng, vừa gây sức ép để ủng hộ Mỹ, nếu không đạt được mục đích Mỹ sẽ phớt lờ và bỏ qua.
Mỹ răn đe các lực lượng dân chủ tiến bộ và các nước XHCN còn lại, coi "nhân quyền" cao hơn "chủ quyền" dân tộc, dùng con bài "tự do", "dân chủ", "nhân quyền", tôn giáo để áp đặt giá trị của Mỹ và phương Tây lên các dân tộc khác. Mỹ thao túng các tổ chức kinh tế - tài chính quốc tế như: IMF, WB, WTO… Mỹ lợi dụng chống khủng bố tấn công lật đổ các chế độ ở Apganixtan (2001) và Irắc (2003), thiết lập các chính quyền mới thân Mỹ, đồng thời tạo sự hiện diện về quân sự và chính trị của Mỹ ở Trung Á và Trung Cận Đông, nhằm kiểm soát khu vực có lợi thế địa - chính trị quan trọng bậc nhất thế giới đồng thời nắm nguồn dầu lửa lớn ở đây với ý đồ dùng dầu mỏ làm "công cụ" để khống chế thế giới. Tháng 6-2002, Tổng thống Bush công bố Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ với chủ trương "đánh đòn phủ đầu" nếu phát hiện thấy có nguy cơ đe doạ nước Mỹ hoặc thách thức vai trò bá chủ của Mỹ… Xu hướng chính trị cường quyền nước lớn của Mỹ đã đặt độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia đang phát triển trước những thách thức nghiêm trọng. Đời sống chính trị thế giới bị đảo lộn.
Uy tín của Liên hợp quốc bị suy giảm. Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa bá quyền Mỹ và các lực lượng dân chủ tiến bộ, lực lượng bảo vệ hoà bình thế giới, chống chính sách cường quyền nước lớn ngày càng sâu sắc. Nó phản ánh tính phức tạp, gay go quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc hiện nay. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan hệ giữa các nước lớn thay đổi nhanh chóng, các nước lớn đều điều chỉnh chiến lược phát triển của mình, vừa đảm bảo lợi ích quốc gia dân tộc vừa góp phần đấu tranh kiềm chế bớt quyền lộng hành của Mỹ, tìm kiếm sự cân bằng mới, tránh xung đột mang tính đối kháng.
Mỗi nước lớn đều coi trọng việc xác lập và củng cố những điều kiện quốc tế có lợi, tăng cường hệ số an toàn quốc gia, bày tỏ mong muốn xây dựng những mối quan hệ "đối tác chiến lược" với quy mô khác nhau. Quan hệ giữa các nước lớn trong những năm đầu thế kỷ XXI vẫn là vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, kiềm chế lẫn nhau, đấu tranh nhưng không làm tổn hại đến hợp tác và nhìn chung các nước lớn đều tránh đối đầu với Mỹ. Diễn biến của cục diện chính trị thế giới những năm đầu thế kỷ XXI cho thấy, sức mạnh bá quyền của Mỹ cũng có những giới hạn, chỉ sau một thời gian ngắn thực hiện chính sách "đơn phương cường quyền" đã xuất hiện những mâu thuẫn sâu sắc và trầm trọng giữa Mỹ và phần còn lại của thế giới. Chính Mỹ đã tạo ra ngày càng nhiều mâu thuẫn, nhiều kẻ thù và đang ngày càng bị cô lập.
Việc Mỹ sa lầy ở Irắc, Apganixtan, việc Mỹ lúng túng mất khả năng giải quyết các vấn đề hạt nhân ở Triều Tiên, ở Iran và sự suy thoái rơi vào khủng hoảng kinh tế - tài chính vừa qua cho thấy không phải việc gì Mỹ muốn cũng có thể làm được, không phải lúc nào thế giới cũng nghe theo Mỹ. Cục diện thế giới đơn cực chỉ tồn tại tức thời với chủ nghĩa đơn phương cường quyền của Mỹ và đã nhường chỗ cho một cục diện đa cực vì hoà bình, bình đẳng, dân chủ hợp tác và phát triển, đó là nguyện vọng của nhân loại tiến bộ. Phương thức tập hợp lực lượng trên thế giới trong những năm đầu thế kỷ XXI vẫn tiếp tục phát triển theo hướng cơ động, linh hoạt trên từng lĩnh vực và vấn đề cụ thể. Lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích kinh tế vẫn tiếp tục được đặt lên hàng đầu chi phối các quan hệ quốc tế.
Điều này buộc các nước phải có cách tiếp cận mới đối với phương thức tập hợp lực lượng để 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bảo vệ lợi ích dân tộc chân chính, đồng thời hội nhập ngày càng sâu rộng, hữu hiệu vào tiến trình phát triển chung của khu vực và thế giới. Vai trò của các phương thức song phương, đa phương hợp tác giải quyết các vấn đề quốc tế ngày càng trở nên không thể thiếu, đặc biệt trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu cấp bách hiện nay. Trong bối cảnh chung nêu trên, cục diện chính trị ở Đông Nam Á bước sang thế kỷ XXI cũng có những thay đổi lớn tác động không nhỏ tới sự hội nhập, liên kết trong khu vực. Trước hết, ASEAN đã hội nhập đủ 10 nước (trừ Đông Timo) trở thành tổ chức khu vực thành công nhất và đang có những bước phát triển khả quan.
Về chính trị, ASEAN tương đối ổn định mặc dù còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ như tranh chấp lãnh thổ, xung đột dân tộc, tôn giáo, ly khai, khủng bố… Về kinh tế, sau khủng hoảng tài chính 1997-1998; các nước ASEAN đã có những bước điều chỉnh kịp thời, cơ cấu lại nền kinh tế đặc biệt là trên lĩnh vực tài chính, tiền tệ để tránh sự phát triển "kinh tế bong bóng" gây nguy hiểm chung. Trên các lĩnh vực văn hoá - xã hội cũng được các nước ASEAN xúc tiến tích cực với các chương trình dự án, hợp tác bước đầu đem lại những kết quả đáng khích lệ. Ngoài ra, ASEAN còn là "hạt nhân" của nhiều tiến trình hợp tác quốc tế như: APEC, ASEM, ASEAN + 3, EAS. Có thể khẳng định rằng: bước vào thế kỷ XXI, ASEAN đã trở thành một tổ chức khu vực thống nhất có vai trò và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các quốc gia thành viên cũng như của khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Trong tương quan lực lượng ở Đông Nam Á, những năm đầu thế kỷ XXI, vai trò của các nước lớn nổi lên gồm Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, các nước này vừa cạnh tranh, vừa kiềm chế lẫn nhau, ảnh hưởng không nhỏ đến sự hợp tác và liên kết của ASEAN. Từ một điểm nóng của Chiến tranh lạnh, chỉ sau một thập niên, Đông Nam Á đã nhanh chóng trở thành nơi hội tụ những nỗ lực hợp tác giữa các nước trong khu vực và các nước trên thế giới. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xu thế hoà bình, hợp tác, phát triển được củng cố, tăng cường ở Đông Nam Á đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác và phát triển ở Đông Nam Á nở rộ hơn nữa trong thế kỷ XXI. Những phát triển mới trong toàn cầu hoá và khu vực hoá Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, toàn cầu hoá kinh tế xuất hiện với tư cách một cấp độ mới cao hơn về chất của quá trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất vốn có trước đó.
Toàn cầu hoá không chỉ tạo ra những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, mà còn thúc đẩy mối quan hệ liên quốc gia cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Tự do hoá kinh tế và cải cách thị trường trên toàn cầu diễn ra phổ biến. Các nền kinh tế dựa vào nhau, liên kết với nhau, xâm nhập lẫn nhau, khiến cho tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng. Toàn cầu hoá kích thích tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy các doanh nghiệp cải tiến công nghệ và quản lý; cạnh tranh quốc tế và tự do hoá thương mại trong các khối kinh tế khu vực cũng như trên phạm vi toàn cầu.
Tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại, sự thay đổi cơ cấu kinh tế - kỹ thuật và chính trị trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hoá, tạo nên một mạng lưới thương mại và chuyển dịch vốn đầu tư đan xen nhau chằng chịt, do vậy nền kinh tế mỗi nước ở mức độ khác nhau đều mang tính quốc tế.