chương 1 Luật Thương mại 2005. Đó là: -Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại (Điều 10) -Nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại (Điều 11) 13 -Nguyên tắc áp dụng thói quen, tập quán trong hoạt động thương mại (Điều 12 và 13) -Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng (Điều 14) -Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại (Điều 15) Trong các nguyên tắc điều chỉnh chế độ giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa sau đây xin được làm rõ một số nguyên tắc quan trọng sau: 1. Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái pháp luật, đạo đức xã hội Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng cho phép cá nhân, tổ chức được tự do quyết định trong việc giao kết hợp đồng với ai, như thế nào, với nội dung, hình thức nào. Hợp đồng phải xuất phát từ ý muốn chủ quan và lợi ích của các chủ thể.
Tuy nhiên, sự tự do thỏa thuận muốn được pháp luật bảo vệ khi có sự vi phạm quyền và nghĩa vụ dẫn đến tranh chấp thì phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Vì lợi ích của mình, các chủ thể phải hướng tới việc không làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của người khác cũng như lợi ích của toàn xã hội. Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng Theo nguyên tắc này, các bên tự nguyện cùng nhau xác lập quan hệ hợp đồng phải bảo đảm nội dung của các quan hệ đó, thể hiện được sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng, bảo đảm lợi ích cho các bên. Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân, tổ chức dù thuộc thành phần kinh tế nào, do cấp nào quản lý khi ký kết hợp đồng đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.
Khi hợp đồng đã được xác lập thì phải bảo đảm quyền và nghĩa vụ tương xứng giữa các chủ thể, có thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ thì mới được hưởng quyền, nếu vi phạm phải bị xử lý. Sự bình đẳng được đề cập ở đây là sự bình đẳng về mặt pháp lý, sự bình đẳng trước pháp luật chứ không phải là sự bình đẳng về mặt kinh tế giữa các chủ thể. Dựa trên cơ sở tự nguyện cùng nhau giao kết hợp đồng, nhưng nếu giữa các bên không có thiện chí, thiếu sự hợp tác chặt chẽ với nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thì việc xác lập hợp đồng này cũng không mang lại lợi ích tối đa cho các bên trong quan hệ hợp đồng. Thêm vào đó, trong giao kết hợp đồng các bên 14 phải thể hiện sự trung thực, ngay thẳng thì mới có thể trở thành đối tác lâu dài của nhau trong các quan hệ thương mại đặc biệt là trong quan hệ mua bán hàng hóa.
Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu. Theo nguyên tắc này trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản (thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu giữ bằng phương tiện điện tử). Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa Theo quy định của Luật Thương mại 2005 chủ thể của hợp đồng phải là thương nhân hoạt động thương mại, tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại. Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mụch đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mụch đích sinh lợi khác.
Có thể phân chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa thành các loại sau: 1. Chủ thể là thương nhân Để xác định một thỏa thuận có phải là hợp đồng mua bán hàng hóa hay không thì việc trước tiên là phải xác định một bên trong quan hệ đồng đó có phải là thương nhân hay không, sau đó mới xem xét đến đối tượng của hợp đồng. Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Luật Thương mại 2005 cũng thừa nhận thương nhân thực tế bằng việc không đặt điều kiện đăng ký kinh doanh là một trong những điều kiện bắt buộc để được công nhận là thương nhân.
Đăng ký kinh doanh là nghĩa vụ của thương nhân nhưng đối với trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu mọi trách nhiệm về mọi hoạt động của mình. Quy định này đã giải quyết những vấn đề đã đặt ra trong thực tế là người không đăng ký kinh doanh nhưng có hành vi kinh doanh thì có được coi là thương nhân không. Nhưng quy định này lại có phần không rõ ràng vì nó không giới hạn trách nhiệm của thương nhân trong phạm vi hoạt động thương mại. Vì vậy, một tổ chức, cá nhân trước khi 15 đăng ký kinh doanh tiến hành các hành vi không nhằm mụch đích sinh lợi có thể vẫn phải chịu trách nhiệm như thương nhân.
Thương nhân là cá nhân. Để được công nhận là thương nhân thì một cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật và hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên như một nghề nghiệp. Cá nhân cũng có thể trở thành thương nhân ngay cả khi hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên như một nghề mà chưa đăng ký kinh doanh. Trong lĩnh vực hoạt động thương mại, do thương nhân phải chịu trách nhiệm đầy đủ về hành vi thương mại của mình, vì vậy những người sau đây không được công nhận là thương nhân: - Người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; - Người đang bị truy cứu trách nhiệm hính sự, người đang phải chấp hành hình phạt tù; - Người đang trong thời gian bị tòa án cướp quyền hành nghề vì các tội buôn lậu, đầu cơ, buôn bán hàng cấm, làm hàng giả, buôn bán hàng hóa, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và các tội khác theo quy định của pháp luật.
Thương nhân là tổ chức Có thể hiểu tổ chức kinh tế trước hết phải là một tổ chức có tư cách pháp nhân trong quá trình hoạt động thương mại và hoạt động một cách độc lập. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây (Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015): - Được thành lập hợp pháp; - Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; - Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; - Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Song không phải tất cả các tổ chức được coi là pháp nhân đều có thể trở thành thương nhân mà chỉ có những pháp nhân nào là tổ chức kinh tế được thành 16 lập để hoạt động thương mại mới trở thành thương nhân. Pháp nhân là tổ chức kinh tế bao gồm: - Doanh nghiệp nhà nước.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn. - Công ty cổ phần. - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. - Các tổ chức kinh tế khác có đủ các điều kiện theo quy định là pháp nhân.
Chủ thể không phải là thương nhân Nếu căn cứ vào mục đích sinh lợi, thì trong rất nhiều trường hợp tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa, khi họ giao kết hợp đồng với thương nhân. Nghĩa là, một bên của hợp đồng là cá nhân, tổ chức hoạt động thương mại độc lập và thường xuyên, còn bên kia là chủ thể không cần các điều kiện nói trên. Khác với bên là thương nhân, bên không phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có đủ năng lực hành vi để tham gia giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật. Đó có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, cũng có thể là hộ gia đình, tổ hợp tác và không hoạt động thương mại độc lập thường xuyên như một nghề.
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã cam kết thỏa thuận với nhau. Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa thì tùy thuộc vào tính chất của từng loại hợp đồng, tùy thuộc vào nội dung, tùy thuộc vào lòng tin lẫn nhau của các bên giao kết mà họ có thể lựa chọn hình thức nào cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Điều 24 Luật Thương mai 2005 quy định "hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập bằng văn bản thì phải tuân theo các quy định đó".
Theo Khoản 15 Điều 3 Luật Thương mại 2005 cũng quy định "hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật". 17 Như vậy, đối với những hợp đồng mà pháp luật đã quy định buộc phải giao kết bằng hình thức văn bản thì các bên phải tuân theo quy định đó. Còn lại thì các bên có thể lựa chọn một trong những hình thức sau đây để giao kết: - Hình thức giao kết bằng hành vi cụ thể: Là sự thỏa thuận bằng việc thực hiện một hành vi nào đó; - Hình thức miệng (bằng lời nói): Hình thức này được áp dụng trong trường hợp hợp đồng thỏa thuận thực hiện một công việc cụ thể hoặc giá trị của hợp đồng là không lớn, các bên tin tưởng lẫn nhau. Cho nên các bên giao kết chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng hoặc mặc nhiên thực hiện những hành vi nhất định đối với nhau; - Hình thức bằng văn bản (viết): Các bên giao kết hợp đồng cam kết thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ hợp đồng bằng văn bản.
Trong văn bản đó, các bên phải ghi rõ nội dung cơ bản mà các bên đã cam kết với nhau và người đại diện của các bên phải ký tên vào văn bản.