Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa 1. Khái niệm tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa Hầu hết khi các chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa đều muốn duy trì sự hợp tác lâu dài để đảm bảo sự đoàn kết và hợp tác ổn định với nhau. Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân mối quan hệ kinh tế giữa họ lại có sự bất đồng dẫn đến tranh chấp trong kinh tế thương mại, trong đó có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa. Để hiểu về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thì cần làm rõ các khái niệm về tranh chấp, hợp đồng, hoạt động mua bán hàng hóa.1 Tranh chấp Khi các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế, không tránh khỏi những mâu thuẫn, bất đồng, nên tranh chấp thường phát sinh từ những mâu thuẫn, bất động đó.
Theo quan điểm triết học Mac- Lê nin, mâu thuẫn được hình thành và phát triển giữa các chủ thể được xem như là quy luật chung của xã hội, là nguồn gốc, là động lực của mọi sự phát triển. Mâu thuẫn tồn tại là yếu tố hình thành nên sự phát triển của xã hội và là điều tất yếu ở mọi nơi, trên mọi lĩnh vực. Như vậy, tranh chấp được hiểu là những xung đột thường phát sinh từ những mâu thuẫn, bất đồng về những lợi ích của các bên tranh chấp muốn đạt được. Hợp đồng Ở các nước khác nhau trên thế giới thì những định nghĩa cũng khác nhau về hợp đồng.
Nếu xét về khía cạnh bảo vệ quyền, lợi ích của các chủ thể khi tham gia trong hoạt động kinh tế, thương mại các quốc gia và vùng lãnh thổ đều đã đưa ra nhiều khái niệm về hợp đồng như: Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 Hoa Kỳ, Pháp, Ấn độ, Nauy, Anh…Trong khi Hoa Kỳ cho rằng: “Hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự “thỏa thuận” của các bên.” thì Bộ luật của Trung Quốc quy định: “Hợp đồng theo quy định của luật này là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên, các tổ chức khác. Việt Nam có rất nhiều quan điểm khác nhau về Hợp đồng, bao gồm khái niệm dân sự theo nghĩa rộng (gồm cả kinh doanh, thương mại, lao động) và theo nghĩa hẹp là không bao gồm kinh doanh, thương mại, lao động. Đặc điểm cơ bản nhất của hợp đồng là thể hiện sự thỏa hiệp giữa các bên với nhau. Việc thỏa hiệp giữa các bên tuân theo nguyên tắc được gọi là nguyên tắc hiệp ý, là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng.
Khi giao kết hợp đồng, các bên tham gia trong hợp đồng đều được tự do thỏa thuận, tự do quy định, bàn bạc về các nội dung trong hợp đồng và xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ cụ thể trong hợp đồng cho các bên. Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối mà phải là tự do theo qui định của pháp luật mà các bên áp dụng hoặc có thể áp dụng. Như vậy, có thể hiểu hợp đồng chính là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên với nhau, nhằm mục đích xác lập quyền và nghĩa vụ, thay đổi quyền và nghĩa vụ, cũng như chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên khi giao kết hợp đồng. Khi thực hiện giao kết một hợp đồng nào đó thì đây chính là một hành vi pháp lý, thể hiện ý chí của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên.
Mua bán hàng hóa Theo từ Điển Việt Nam, có thể hiểu mua có nghĩa là hành vi đổi tiền để lấy hàng hóa đồ vật; Bán có nghĩa là hành vi đổi vật lấy tiền về hoặc chuyên cung cấp các mặt hàng (vật) để lấy tiền lời; Hàng hóa, theo Từ điển Việt Nam định nghĩa là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế chính trị. Hàng hóa là sản phẩm của quá trình lao động của con người, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua việc trao Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 đổi hoặc buôn bán. Hiểu theo nghĩa hẹp thì hàng hóa là một dạng vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian và có thể dung để trao đổi, mua bán được. Còn về nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì có thể đêm ra trao đổi, mua bán được.
Theo học thuyết về kinh tế chính trị của Mac-Lenin thì khái niệm hàng hóa cũng được hiểu là sản phẩm của quá trình lao động thông qua việc trao đổi, mua bán. Hàng hóa có thể ở dạng hữu hình như vàng bạc, cái bàn hay ở dạng vô hình như sức lao động. Mua bán hàng hóa theo pháp luật một số nước: Theo luật Thương mại thống nhất Mỹ: Mua: Có nghĩ là thực hiện bằng cách bán, cho thuê, chiết khấu, đàm phám thế chấp, bảo đảm, phát hành hoặc phát hành lại, quà tặng hoặc bất kỳ giao dịch tự nguyện nào khác tạo ra sự quan tâm đến tài sản. Người bán: Nghĩa là một người kinh doanh các loại hàng hóa hoặc bằng cách khác bởi nghề nghiệp của anh ta tự coi là người có kiến thức hoặc kỹ năng đặc biệt đối với các thông lệ hoặc hàng hóa liên quan đến giao dịch hoặc người mà kiến thức hoặc kỹ năng đó có thể được quy cho việc làm của anh ta một đại lý hoặc người môi giới hoặc người trung gian khác, người mà nghề nghiệp của anh ta tự cho mình là người có kiến thức hoặc kỹ năng như vậy.
Hàng hóa: Nghĩa là tất cả mọi thứ bao gồm cả hàng hóa được sản xuất đặc biệt) có thể di chuyển tại thời điểm xác định hợp đồng mua bán ngoài số tiền phải trả, chứng khoán đầu tư (Điều 8) và những thứ đang hoạt động. “ Hàng hóa” cũng bao gồm những con non chưa sinh của động vật và trồng trọt và những thứ được xác định khác gắn liền với thực tế như được mô tả trong phần về hàng hóa bị cắt đứt từ thực tế (mục 2- 107). Khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 (sau đây gọi tắt là LTM 2005) quy định như sau: “Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”. Điều 24 của LTM 2005 quy định về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa, theo đó, hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
Còn trong trường hợp mà pháp luật quy định hợp đồng mua bán hàng hóa loại đó phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo quy định đó. Luật Thương mại năm 2005 còn quy định về nguyên tắc khi giao kết hợp đồng thương mại như sau: Hợp đồng thương mại được thực hiện theo nguyên tắc của các chủ thể tự nguyện, bình đẳng và trở thành phương tiện phục vụ cho mục đích kinh doanh. Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường thì đây là hình thức pháp lý chủ yếu giúp các quan hệ giữa các chủ thể kinh tế thực hiện công việc của mình một cách ổn định hơn, an toàn hơn và bình ổn hơn Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa là những bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể tham gia trong hợp đồng về các quyền và nghĩa vụ mà ở đây chủ yếu là liên quan đến việc thực hiện hoặc không thực hiện quyền và nghĩa vụ tự nguyện thỏa thuận.2 Đặc điểm, nguyên nhân tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa 1. Đặc điểm tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá Theo từ điển Tiếng Việt thì tranh chấp được hiểu là sự tranh giành một cách giằng co không rõ về bên nào.
Trong đời sống xã hội luôn luôn có những tranh chấp xảy ra trong mọi lĩnh vực, để xã hội ổn định và phát triển cần giải quyết những tranh chấp ấy. Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh từ nội dung của hợp đồng, giải thích hợp đồng, cũng như tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng và quy định pháp luật có liên quan đến hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, sửa đổi, bổ sung chấm dứt hợp đồng, cũng như qui định về Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng… Vi phạm hợp đồng là căn cứ làm phát sinh tranh chấp giữa các chủ thể. Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa có các đặc điểm sau: - Có sự vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa.
Vi phạm hợp đồng được xác định khi bên mua hoặc bên bán hoặc cả hai không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ, không đúng những nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng - Có thiệt hại về tài sản của bên bị vi phạm. Thiệt hại về tài sản là căn cứ để bên bị vi phạm đòi hỏi bên vi phạm phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đó. Việc chứng minh thiệt hại là của bên bị vi phạm, nếu bên bị vi phạm không chứng minh được mình bị thiệt hại về vật chất do vi phạm hợp đồng thì không thể yêu cầu bên vi phạm bồi thường. - Có quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại vật chất xảy ra.
Điều này có nghĩa là hành vi vi phạm hợp đồng phải là nguyên nhân dẫn đến việc gây ra thiệt hại cho bên bị vi phạm - Có lỗi của bên vi phạm. Đây là điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành động vi phạm hợp đồng của bên vi phạm, nếu một bên vi phạm hợp đồng nhưng không có lỗi thì không thể bị bắt buộc bồi thường thiệt hại.