Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ LƯU TRỮ 1. Khái niệm, đặc điểm dịch vụ lưu trữ 1. Khái niệm dịch vụ Mặc dù đã có sự phân biệt rõ ràng giữa hàng hóa và dịch vụ nhưng không có một khái niệm thống nhất về dịch vụ cũng như không có khái niệm chính xác nhất về dịch vụ, với mỗi cách tiếp cận khác nhau lại có những khái niệm khác nhau về dịch vụ. Theo cách tiếp cận là một ngành, một lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân thì dịch vụ là một ngành trong nền kinh tế quốc dân, là ngành kinh tế thứ ba sau các ngành công nghiệp, nông nghiệp, là khu vực phi sản xuất vật chất.
Với tư cách là một hoạt động, dịch vụ được hiểu là hoạt động sản xuất, là hoạt động chứa đựng cả các yếu tố vật chất và phi vật chất, dịch vụ là hoạt động sản xuất khác với hoạt động sản xuất thông thường, đòi hỏi phải có sự hiện diện của khách hàng, khách hàng phải tiếp cận với nhà cung ứng và ngược lại mới có thể thỏa mãn nhu cầu. Bên cạnh đó, có thể tiếp cận dịch vụ với tư cách là sản phẩm-kết quả của hoạt động: dịch vụ là kết quả của hoạt động tương tác giữa các nhà cung ứng với khách hàng, dịch vụ là sản phẩm vô hình nhưng thực chất là hỗn hợp của các yếu tố vô hình và các yếu tố hữu hình, tùy thuộc vào từng loại hình dịch vụ mà mức độ vô hình hàm chứa trong mỗi loại hình dịch vụ sẽ khác nhau. Từ quan niệm về dịch vụ, có thể khái niệm chung về dịch vụ như sau: dịch vụ là sản phẩm của doanh nghiệp, không tồn tại dưới hình thái vật thể, 7 Luan van không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn các nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của khách hàng một các kịp thời, thuận lợi và hiệu quả. Khái niệm dịch vụ lưu trữ Dịch vụ lưu trữ có đặc điểm khác biệt với các ngành dịch vụ thương mại khác đó là tính thương mại luôn gắn liền với các phương thức lưu trữ mang tính truyền thống cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân nào đó.
Hiện nay, trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam chưa có một quy định nào thể hiện thế nào là DVLT. Cụm từ “DVLT” được gắn với các cụm từ khác và được nằm rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật. DVLT được coi là một loại dịch vụ mang tính thương mại, người cung cấp DVLT nhằm mục đích thu lợi và được coi như một nghề. Người sử dụng DVLT được thỏa mãn những yêu cầu hiểu biết hay công việc cụ thể và phải trả phí (giá) dịch vụ cho người cung cấp.
Tác giả nhận thấy, hiện nay các DVLT luôn gắn liền với pháp luật, nếu nhà nước cung ứng DVLT thì sẽ thông qua các đơn vị mà mình thành lập chẳng hạn như Trung tâm lưu trữ Quốc Gia. Các tổ chức tư cung ứng DVLT như các công ty Dich vụ Văn thư và Lưu trữ, các công ty Số hóa tài liệu lưu trữ …. Có lẽ với một số người khái niệm dịch vụ lưu trữ đã không còn xa lạ, tuy nhiên, theo thống kê hiện nay có một tỷ lệ lớn những người không hề biết đến loại hình này là gì. Trước tiên, chúng ta phải nêu được khái niệm của lưu trữ, vậy lưu trữ là gì? Lưu trữ là giữ lại các loại văn bản, hồ sơ của cơ quan, của cá nhân để làm bằng chứng và tra cứu khi cần thiết.
Tại Điều 2 Luật Lưu trữ 2011[22]: “Hoạt động lưu trữ là hoạt động thu thập, chỉnh lý, xác định giá trị, bảo quản, thống kê, sử dụng tài liệu lưu trữ”, “Tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động 8 Luan van của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tài liệu bao gồm văn bản, dự án, bản vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên cứu, sổ sách, biểu thống kê; âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm, ghi hình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học, nghệ thuật; sổ công tác, nhật ký, hồi ký, bút tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in; ấn phẩm và vật mang tin khác”, “Tài liệu lưu trữ là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử được lựa chọn để lưu trữ. ” Tại Điều 36 Luật Lưu trữ 2011 quy định về hoạt chủ thể hoạt động dịch vụ lưu trữ đó là Tổ chức và cá nhân hành nghề độc lập về dịch vụ lưu trữ [22]. Do vậy, xét về mặt thương mại, thì DVLT được hiểu như sau: “DVLT là loại hình dịch vụ được cung cấp bởi những tổ chức và cá nhân, dành cho những ai có nhu cầu về việc bảo quản các loại giấy tờ quan trọng trong điều kiện tốt nhất”.
Đặc điểm của dịch vụ lưu trữ Dịch vụ lưu trữ là hoạt động rất đặc thù so với các loại dịch vụ thông thường khác, các đặc điểm nổi bật được thể hiện: 1. Dịch vụ lưu trữ luôn gắn liền với tài liệu lưu trữ Dịch vụ lưu trữ là loại hình dịch vụ có liên quan tới hoạt động thu thập, chỉnh lý, xác định giá trị, bảo quản, thống kê, sử dụng tài liệu lưu trữ mà bên cung ứng dịch vụ thực hiện cho khách hàng một hoạt động cụ có liên quan đến tài liệu lưu trữ nhằm mục đích kiếm lời. Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh thêm là ngoài mục đích tìm kiếm lợi nhận thì đặc điểm nổi bật so với các dịch vụ khác là luôn gắn liền với tài liệu lưu trữ. Hoạt động dịch vụ lưu trữ là hình thức kinh doanh có điều kiện 9 Luan van Bên hoạt động DVLT phải là tổ chức hoặc cá nhân hành nghề độc lập phải có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Để hoạt động DVLT trên thị trường và ký kết HĐDVLT thì chủ thể phải đáp ứng điều kiện theo quy định và được phép có quyền cung ứng loại dịch vụ này. Nếu cung cấp DVLT với tư cách là tổ chức thì chủ thể này phải được thành lập hợp pháp và cá nhân thực hiện hoạt động dịch vụ lưu trữ của tổ chức cung cấp DVLT phải có chứng chỉ hành nghề lưu trữ. Nếu hành nghề với tư cách cá nhân thì chủ thể này ngoài việc đáp ứng về chứng chỉ hành nghề thì còn phải thực hiện đăng ký theo quy định của pháp luật. Dịch vụ lưu trữ không định lượng cụ thể hóa được chât lượng dịch vụ Dịch vụ lưu trữ mang những đặc điểm riêng biệt đó là những công việc phải thực hiện nhưng kết quả mang tính vô hình, khó tiêu chuẩn hóa, không thể phân chia.
Việc không có thước đo về chất lượng DVLT mà chỉ là sự mẫn cán của người trực tiếp thực hiện DVLT dẫn đến mỗi tổ chức, cá nhân phải luôn phấn đấu để uy tín và thương hiệu của mình ngày càng được củng cố để khẳng định sự tận tâm, nhiệt huyết để đạt được hiệu quả công việc của bên cung cấp DVLT đối với khách hàng. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng dịch vụ lưu trữ 1. Khái niệm hợp đồng dịch vụ lưu trữ 1. Hợp đồng dịch vụ Dưới góc độ là một quan hệ xã hội được hình thành trên cơ sở thảo thuận giữa bên cung ứng dịch vụ và bên thuê dịch vụ được pháp luật điều chỉnh thì HĐDV là sự thỏa thuận giữa bên cung ứng với bên thuê mà theo đó bên cung ứng thực hiện một công việc nhất định nhằm đem lại lợi ích cho bên thuê và bên thuê có nghĩa vụ trả tiền dịch vụ cho bên cung 10 Luan van ứng trên cơ sở các nội dung quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật.
Dưới góc độ là pháp luật điều chỉnh hoạt động cung ứng, sử dụng dịch vụ thì HĐDV được hiểu là các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nức có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục luật định nhằm điều chỉnh các quan hệ cung ứng, sử dụng dịch vụ phát sinh trong xã hội. Theo quy định tại Điều 513 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”. Như vậy, BLDS năm 2015 đã thay cụm từ “ bên sử dụng dịch vụ” cho cụm từ “bên thuê dịch vụ” của Điều 518 BLSD năm 2005 [23]. Tác giả cho rằng sự thay đổi này là phù hợp vì nó thể hiện sự tương quan về mục đích mà các bên hướng tới trong hợp đồng.
Với khái niệm đã được quy định như trên thì HĐDV là một loại hợp đồng dân sự thông dụng, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ. Hợp đồng dịch vụ lưu trữ Hợp đồng dịch vụ lưu trữ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một bên (bên cung ứng dịch vụ lưu trữ) cung cấp cho bên kia gói dịch vụ lưu trữ, bên sử dụng dịch vụ lưu trữ phải trả tiền cho bên cung cấp dịch vụ. Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ lưu trữ 1. Đặc điểm chung của hợp đồng dịch vụ lưu trữ ` - Là loại hợp đồng ưng thuận: Các chủ thể tự do thể hiện ý chí khi thỏa thuận về nội dung của hợp đồng như: Đối tượng của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên, địa điểm, thời hạn phương thức thực hiện hợp đồng, giải quyết tranh chấp tài liệu lưu trữ.
và khi các bên đã xác lập, 11 Luan van giao kết thì hợp đồng mang tính bắt buộc giữa các bên, việc từ chối hoặc chậm trễ thực hiện coi như vi phạm hợp đồng. Thể hiện nổi bật của đặc điểm này là giá trị pháp lý gắn với công việc mà bên cung ứng DVLT phải thực hiện với kỹ năng, kinh nghiệm của mình theo quy định của pháp luật. - Là loại hợp đồng song vụ: Theo đó mỗi bên điều có nghĩa vụ nhất định đối với nhau, có các quyền tương ứng với nhau, khi bên này thực hiện nghĩa vụ thì bên kia được hưởng quyền tương ứng và ngược lại. Các quyền và nghĩa vụ của các bên có tính quan hệ, có tính phụ thuộc lẫn nhau, được thực hiện nhằm đạt mục đích giao kết hợp đồng.