Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1.1 Khái niệm cho thuê tài chính Ngày nay, thuật ngữ cho thuê tài chính (CTTC) đã trở nên quen thuộc trong lĩnh vực kinh doanh. Tuy nhiên, cho tới nay không phải quốc gia nào cũng có một khái niệm chuẩn về CTTC. Theo công bố của Công ty tài chính Quốc tế (IFC), chỉ có 19/37 quốc gia được điều tra thăm dò có định nghĩa về CTTC. Đồng thời, mỗi quốc gia cũng có những quy định riêng về CTTC tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của mình.
Từ khi ra đời cho đến nay, thuật ngữ “Leasing” được hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng nhằm chỉ hoạt động cho thuê tài sản được các định chế tài chính (trong đó nhất thiết phải có Công ty CTTC) mua theo yêu cầu của bên thuê. z Hết thời hạn, bên thuê được phép chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng CTTC. Ở Việt Nam, các văn bản pháp luật như Luật các Tổ chức tín dụng có hiệu lực ngày 01/10/1998; Nghị định số 64/1995/NĐ-CP ngày 01/10/1995 ban hành “Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC Việt Nam” sử dụng thuật ngữ “Cho thuê tài chính” đối với hoạt động nêu trên. Bên cạnh thuật ngữ “Cho thuê tài chính”, hiện nay còn tồn tại nhiều thuật ngữ khác như “Tín dụng thuê mua”, “thuê mua tài chính”,… Thuật ngữ “Tín dụng thuê mua” nhìn dưới góc độ tín dụng là một phương thức tài trợ vốn, cấp vốn được thực hiện dưới hình thức tài sản đem cho thuê.
Còn “Cho thuê tài chính”, theo quan điểm của các nhà nghiên cứu hiện nay thì thuật ngữ này chưa thể hiện đầy đủ nội dung của khái niệm “Leasing”, vì CTTC thì thiên về việc đem tài sản của mình để “cho người khác thuê” hơn là việc “thuê để mua”. Trong hoạt động CTTC, ngoài yếu tố thuê tài sản, thì việc thoả thuận chuyển quyền sở hữu, mua lại tài sản khi kết thúc hợp đồng thường được các bên đặt ra. Do vậy, nếu dùng thuật ngữ “Thuê mua tài chính” sẽ thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt động “leasing”. Tuy nhiên, trong bản luận văn này, tác giả xin phép vẫn dùng cụm từ “Cho thuê tài chính” cho thống nhất với câu chữ trong các văn bản pháp luật của Việt Nam về lĩnh vực này.
Để có khái niệm tương đối đầy đủ về CTTC, chúng ta cần xem xét các định nghĩa về CTTC. Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (International Accounting Standards Committee – IASC) đưa ra định nghĩa về CTTC như sau: “Thuê mua tài chính (Finacial Lease) là một giao dịch trong đó một bên (người cho thuê) chuyển giao quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia (người đi thuê) trong một thời gian nhất định, mà trong thời gian đó, người cho thuê dự định thu hồi vốn tài trợ cùng các chi phí có liên quan; quyền sở hữu tài sản có thể được chuyển giao hay không tuỳ theo sự thoả thuận giữa hai bên”. [5] Theo Từ điển quản lý tài chính ngân hàng, Thuật ngữ thuê mua được định nghĩa như sau: “Thuê mua là một hợp đồng cho thuê kèm theo lời hứa đơn phương z bán cho người thuê theo một giá nhất định, có tính đến số tiền thuê đã trả” [14, Tr.144] Theo Điều 1 Công ước Unidroit về cho thuê tài chính quốc tế được ký tại Ottawa ngày 20/5/1998, hoạt động cho thuê tài chính được xác định là giao dịch, trong đó một bên (bên cho thuê): (a) Căn cứ vào yêu cầu được nêu cụ thể của bên kia (bên thuê) thống nhất một thoả thuận (thoả thuận cung cấp) với một bên thứ ba (nhà cung cấp). Theo đó, bên cho thuê mua nhà máy, hàng hoá, tư liệu sản xuất hoặc các thiết bị khác (gọi chung là thiết bị) theo các điều kiện đã được (bên đi thuê) chấp thuận; (b) Cùng thống nhất một thoả thuận (thoả ước cho thuê) với bên đi thuê cho phép bên đi thuê quyền sử dụng thiết bị để đổi lại bằng việc thanh toán tiền thuê” [4, Tr.1] Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ ghi nhận: “Cho thuê tài chính” là loại cho thuê trong đó: - Người cho thuê không chọn sản xuất hoặc cung ứng hàng; - Người cho thuê thu nhận hàng hoặc quyền sở hữu và sử dụng hàng liên quan đến việc cho thuê; - Hoặc người cho thuê nhận một bản sao hợp đồng chứng thực đã mua hàng vào thời điểm hoặc trước khi ký hợp đồng, hoặc việc phê chuẩn hợp đồng của người cho thuê chứng thực việc họ mua hàng đó là một trong những điều kiện xét tính hiệu lực của hợp đồng cho thuê.
Còn theo Hiệp hội các công ty tài chính Thuỵ Điển thì “Cho thuê tài chính” có nghĩa là: - Người cho thuê mua thiết bị do người thuê yêu cầu; - Các thiết bị thuộc quyền sở hữu của người cho thuê và quyền sử dụng được trao cho người thuê trong suốt thời hạn thuê, thường tương đương với tuổi thọ kỹ thuật của thiết bị z - Hợp đồng cho thuê không thể bị phá vỡ trước thời hạn; - Số tiền thanh toán cho thuê sẽ bù đắp chi phí lãi, chi phí quản lý, rủi ro và lãi cho phép khấu hao toàn bộ hoặc gần như toàn bộ giá mua thiết bị đó; - Tại thời điểm kết thúc hợp đồng, người thuê có quyền gia hạn hợp đồng với phí suất được ấn định tại thời điểm ký hợp đồng; - Nếu người thuê quyết định không gia hạn thuê, thì quyền sử dụng thiết bị sẽ chấm dứt và thiết bị được bàn giao lại cho người cho thuê. Ở Việt Nam, hoạt động “Thuê mua tài chính” thường được gọi là “Cho thuê tài chính” và được diễn đạt: “là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận”.
[44] Căn cứ vào các định nghĩa trên ta thấy dù có những cách diễn đạt khác nhau, nhưng bản chất chung của cho thuê tài chính (hay thuê mua tài chính): Là một dạng hoạt động tín dụng ngân hàng thông qua việc tài trợ thiết bị của bên cho thuê đối với bên thuê, đối tượng của hoạt động tín dụng này là tài sản và tài sản đó thường có thời gian sử dụng lâu dài, không dễ bị lạc hậu, thời hạn thuê thường chiếm phần lớn thời gian sử dụng của tài sản nên nó được xem là tín dụng trung, dài hạn mà mục đích của người cho thuê là thu hồi vốn và lãi trên vốn đầu tư (tiền mua thiết bị) còn mục đích của của người đi thuê là sử dụng vốn (thiết bị) có thời hạn và hoàn trả cho người cho thuê theo định kỳ dưới dạng tiền thuê. Tiền thuê được tính toán trên cơ sở đảm bảo cho người cho thuê việc hoàn vốn và lợi nhuận đối với số tiền đầu tư ban đầu.2 Khái niệm hợp đồng cho thuê tài chính Trong khoa học pháp lý, hợp đồng được định nghĩa là: “Sự thoả thuận bằng lời nói hoặc bằng văn bản giữa hai hay nhiều chủ thể có đủ năng lực pháp luật và z năng lực hành vi nhằm xác lập, thực hiện, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định trên cơ sở phù hợp pháp luật và đạo đức xã hội [8, Tr.111] Từ quan niệm đó về hợp đồng, dựa trên những đặc điểm riêng có của hoạt động cho thuê tài chính mà hợp đồng cho thuê tài chính có thể được định nghĩa dưới các dạng thức như sau: Hợp đồng CTTC là “Hợp đồng cho thuê được ký kết giữa bên cho thuê với bên đi thuê, cho phép bên đi thuê có quyền sử dụng các thiết bị và nhận thanh toán các khoản tiền thuê”. [4] “Hợp đồng thuê mua tài chính là hợp đồng, trong đó quy định người đi thuê sẽ có quyền sử dụng tài sản và trả chi phí cho người cho thuê, người đi thuê sẽ chịu mọi rủi ro phát sinh từ tài sản”. [29] “Hợp đồng cho thuê tài chính là thoả thuận giữa bên cho thuê và bên đi thuê về việc cho thuê một hoặc một số máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và động sản khác phù hợp với quyền và nghĩa vụ của các bên”.
[45] Như vậy, hợp đồng CTTC dù được thể hiện một cách đa dạng trong pháp luật của nhiều quốc gia và pháp luật quốc tế, nhưng đều được hiểu một cách thống nhất là phương thức thực hiện giao dịch cho thuê tài chính, là hình thức pháp lý của quan hệ cho thuê tài chính. Để đảm bảo giá trị pháp lý của hợp đồng CTTC, pháp luật các nước thường quy định về các nội dung cơ bản mà hợp đồng này cần có: - Các bên trong quan hệ CTTC: Quan hệ CTTC được thiết lập giữa các chủ thể tham gia bao gồm bên cho thuê và bên thuê. Phổ biến ở các quốc gia bên cho thuê là các công ty CTTC, còn bên thuê là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu thuê tài sản phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. ở Việt Nam, chỉ có các công ty CTTC được thực hiện hoạt động CTTC.
Vì thế, bên cho thuê bao giờ cũng là các công ty CTTC, bên thuê là các tổ chức, cá nhân hoạt động tại Việt Nam trực tiếp sử dụng tài sản thuê phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, pháp luật Việt Nam không thừa nhận hoạt động CTTC phục vụ cho mục đích tiêu dùng. z - Đối tượng của hợp đồng CTTC: Là tài sản. Tài sản trong CTTC thường có giá trị lớn và có thời hạn sử dụng lâu dài. Các tài sản này có thể là bất động sản, máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác.
Theo pháp luật Việt Nam, tài sản thuê là động sản.