Hồng Kông: Từ Thuộc Địa Của Anh Đến Đặc Khu Hành Chính Của Trung Quốc

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp lịch sử hồng kông từ thuộc địa của anh đến đặc khu hành chính của trung quốc nửa sau thế, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2008

154
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5. BỐ CỤC

1. CHƯƠNG I: TÌNH HÌNH TRUNG QUỐC VÀ HỒNG KÔNG TỪ GIỮA THẾ KỶ XIX ĐẾN NĂM 1997

1.1. TÌNH HÌNH TRUNG QUỐC GIỮA THẾ KỶ XIX

1.1.1. Sự suy tàn của chế độ phong kiến Trung Quốc

1.1.2. Chiến tranh thuốc phiện và các hiệp ước bất bình đẳng

2. CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH HỒNG KÔNG TRỞ VỀ TRUNG QUỐC

3. CHƯƠNG III: HỒNG KÔNG SAU MƯỜI NĂM TRỞ VỀ TRUNG QUỐC

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Hồng Kông Từ thuộc địa Anh đến đặc khu hành chính Trung Quốc

Hồng Kông, một trong những trung tâm kinh tế hàng đầu châu Á, đã trải qua một hành trình lịch sử dài từ khi trở thành thuộc địa của Anh cho đến khi trở thành đặc khu hành chính của Trung Quốc. Sự chuyển giao này không chỉ mang ý nghĩa chính trị mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến kinh tế và văn hóa của khu vực. Việc tìm hiểu lịch sử Hồng Kông giúp hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội mà khu vực này đang đối mặt.

1.1. Lịch sử hình thành Hồng Kông dưới sự cai trị của Anh

Hồng Kông trở thành thuộc địa của Anh sau Hiệp ước Nam Kinh năm 1842. Sự phát triển của Hồng Kông trong thời kỳ này đã biến nơi đây thành một trung tâm thương mại quan trọng, thu hút nhiều nhà đầu tư và thương nhân từ khắp nơi trên thế giới.

1.2. Sự chuyển giao chủ quyền Hồng Kông về Trung Quốc

Ngày 1 tháng 7 năm 1997, Hồng Kông chính thức trở về với Trung Quốc, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử. Sự kiện này không chỉ là sự kết thúc của 155 năm thuộc địa mà còn mở ra một chương mới cho Hồng Kông trong bối cảnh toàn cầu hóa.

II. Những thách thức chính trị và xã hội của Hồng Kông sau 1997

Sau khi trở về Trung Quốc, Hồng Kông đã phải đối mặt với nhiều thách thức về chính trị và xã hội. Sự khác biệt trong hệ thống chính trị giữa Hồng Kông và Trung Quốc đại lục đã tạo ra những căng thẳng trong mối quan hệ giữa chính quyền và người dân. Việc duy trì quyền tự trị và các quyền tự do cơ bản là một trong những vấn đề nóng bỏng.

2.1. Quyền tự trị và các vấn đề chính trị

Hồng Kông được đảm bảo quyền tự trị theo nguyên tắc 'Một quốc gia, hai chế độ'. Tuy nhiên, nhiều người dân cảm thấy quyền tự do của họ đang bị đe dọa, dẫn đến các cuộc biểu tình lớn và sự phản đối mạnh mẽ từ cộng đồng.

2.2. Tình hình xã hội và văn hóa Hồng Kông

Sự đa dạng văn hóa và xã hội của Hồng Kông đã tạo nên một bản sắc riêng biệt. Tuy nhiên, sự xung đột giữa các giá trị văn hóa truyền thống và những ảnh hưởng từ Trung Quốc đại lục đã tạo ra những căng thẳng trong xã hội.

III. Phương pháp phát triển kinh tế của Hồng Kông sau 1997

Hồng Kông đã áp dụng nhiều phương pháp để duy trì và phát triển nền kinh tế sau khi trở về Trung Quốc. Sự kết hợp giữa chính sách mở cửa và cải cách kinh tế đã giúp Hồng Kông duy trì vị thế là một trong những trung tâm tài chính hàng đầu thế giới.

3.1. Chính sách kinh tế mở cửa

Chính phủ Hồng Kông đã thực hiện nhiều chính sách kinh tế mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài và khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp dịch vụ. Điều này đã giúp Hồng Kông duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định.

3.2. Hợp tác kinh tế với Trung Quốc đại lục

Mối quan hệ kinh tế giữa Hồng Kông và Trung Quốc đại lục ngày càng chặt chẽ. Hồng Kông đóng vai trò là cầu nối giữa Trung Quốc và thế giới, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa hai bên.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về Hồng Kông

Nghiên cứu về Hồng Kông không chỉ giúp hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa của khu vực mà còn cung cấp những bài học quý giá cho các quốc gia khác trong việc quản lý sự chuyển giao quyền lực và phát triển kinh tế. Những thành tựu và thách thức của Hồng Kông có thể được áp dụng vào nhiều bối cảnh khác nhau.

4.1. Bài học từ sự phát triển của Hồng Kông

Hồng Kông đã chứng minh rằng sự kết hợp giữa tự do kinh tế và quản lý chính trị hiệu quả có thể tạo ra một môi trường phát triển bền vững. Các quốc gia khác có thể học hỏi từ mô hình này để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của mình.

4.2. Tương lai của Hồng Kông trong bối cảnh toàn cầu

Tương lai của Hồng Kông sẽ phụ thuộc vào khả năng duy trì sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế. Sự thay đổi trong mối quan hệ với Trung Quốc đại lục sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến vị thế của Hồng Kông trên trường quốc tế.

V. Kết luận Hồng Kông và triển vọng tương lai

Hồng Kông đã trải qua nhiều biến động từ khi trở thành thuộc địa của Anh cho đến khi trở thành đặc khu hành chính của Trung Quốc. Những thách thức và cơ hội mà Hồng Kông đang đối mặt hiện nay sẽ định hình tương lai của khu vực này. Việc duy trì sự ổn định và phát triển bền vững là điều cần thiết để Hồng Kông tiếp tục tỏa sáng trên bản đồ kinh tế thế giới.

5.1. Tầm quan trọng của Hồng Kông trong khu vực

Hồng Kông không chỉ là một trung tâm tài chính mà còn là một biểu tượng của sự giao thoa văn hóa giữa phương Đông và phương Tây. Sự phát triển của Hồng Kông có thể ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trong khu vực.

5.2. Những thách thức cần vượt qua

Để duy trì vị thế của mình, Hồng Kông cần phải vượt qua những thách thức về chính trị và xã hội. Sự đồng thuận giữa chính quyền và người dân là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

10/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho cuộc chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất. '® Nguyễn Hiến Lê. Sử Trung Quốc. Nxb văn hóa, 1997, trang 227 SVTH: Nguyễn Thị Y Vân trang 12 Khoa luận tố: nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Thị Kim Dung Ngày 1/10/1839, Goerge Elliot và Charles Elliot đã được bổ nhiệm làm chánh phó Toàn quyển Anh tại Trung Quốc.

Chịu trách nhiệm chỉ huy cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Tháng 2/1840, sứ thần của Anh Parlmerston yêu cầu nhà Thanh phải cắt nhượng vĩnh viễn một số hòn đảo ven bờ cho Anh làm nơi giao dịch buôn bán và cư trú. Nhưng những để nghị này không được triểu đình Mãn Thanh chấp nhận. Tháng 4/1840, Nghị viện Anh thông qua kế hoạch xâm lược Trung Quốc.

Thang 6/1840, Charles Elliot chỉ huy ham đội Anh với hơn 40 chiến thuyền, 15.000 quân và 540 khẩu pháo tiến vào Quảng Đông. Nhân dân Quảng Đông dưới sự chỉ huy của Lâm Tắc Từ đã chiến đấu quyết liệt. Quân Anh không đổ bộ lên vùng biển này được nên chỉ để lại một ít quân bao vây và phong tỏa Quang Đông. Số còn lại kéo lên phía Bắc tấn công vào Hạ Môn, Định Hải, Đại Cô, Cửa Bạch Hà.

Trước sự tấn công của quân Anh Hoàng đế đạo Quang đổ tội cho Lâm Tắc Từ, triệu hổi ông về kinh để xét xử. Đồng thời phái Tổng đốc Kỳ Thiện đi tìm cách để đàm phán với quân Anh. Ngày 30/6/1840 cuộc đàm phán giữa Kỳ Thiện và George Elliot diễn ra. Phía Anh yêu cẩu triểu đình Man Thanh phải bồi thường những thiệt hại về thuốc phiện mà trước đây đã bị thiêu hủy, yêu cầu cất nhượng đất cho Anh.

Kỳ Thiện ban đầu không đồng ý cắt đất song trước hành động xâm lược của kẻ thù đã chấp nhận những yêu sách mà quân Anh đưa ra. Trên đà thắng thế, ngày 7/1/1841 Charles Elliot lúc này là Toàn quyền Anh ở Trung Quốc đã cho quân đánh chiếm Sa Giác nhằm mục đích dùng Sa Giác để đổi lấy Hương Cảng. Ngày 20/1 1841 Kỳ Thiện cùng với Elliot ký “ thảo ước Xuyên Ti”, Kỳ Thiện đồng ý nhường bán đảo Hương Cảng cho người Anh. Đổi lại quân Anh rút khỏi Sa Giác, Hổ Môn, Định Hải.

Ngày 25/1/1841, quân Anh cử hành lễ chào cỡ trên đảo Hương Cảng và tuyên bố chiếm vùng lãnh thổ này của Trung Quốc. Trước tình hình đó, tức giận vua Dao Quang đã cất chức Kỳ Thiện. Nghe tin Elliot đã bội ước cho quân đánh chiếm Hổ Môn.Tháng 8/1841, quân Anh lúc này do SVTH: Nguyễn Thi Y Vân trang 13 Khoa tuận tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Thi Kim Dung Henry Pottinger chỉ huy đánh chiếm Hạ Môn, Định Hải, Ninh Ba, Hàng Châu, Nam Kinh.Hoảng sợ trước sự tấn công của quân Anh, triểu đình Mãn Thanh đã ký với quân Anh Hiệp ước Nam Kinh vào ngày 29/8/1842 với nội dung và những điều khoảng bổ sung trong yếu như sau: I. Trung Quốc cất nhường Hương Cảng (Hồng Kông) cho Anh.

Trung Quốc phải mở 5 cửa khẩu cho người Anh tự do buôn bán đó là : Quảng Châu, Phúc Châu, Hạ Môn, Ninh Ba, Thượng Hải. Trung Quốc bồi thường cho Anh 21 triệu tiền Trung Quốc. Bãi bỏ chế độ * công hành” tức là chế độ kiểm soát hải quan của phía Trung Quốc, người Anh có quyển tự do giao dịch buôn bán tại 5 cửa khẩu nói trên. Về hiệp định thuế quan : khoảng thuế người Anh nộp khi xuất nhập khẩu hàng hóa phía Trung Quốc phải bàn bạc và được sự chấp nhận của phía Anh.

6, Về quyền lãnh sự tài phán : khi người Anh có tranh chấp xung đột với người Trung Quốc thì việc xử lý người Anh do nhà đương cục Anh quyết định theo luật phấp của nước Anh. Người Anh được hưởng quyền * tối huệ quốc” ở Trung Quốc. Hiệp ước Nam Kinh là hiệp ước bất bình đẳng đâu tiên mà triểu đình Mãn Thanh ký kết với đế quốc Anh, đây là sự đầu hàng nhục nhã, là xiểng xích mà chủ nghĩa đế quốc phương Tây tròng vào cổ Trung Quốc. Với việc cắt nhượng Hồng Kông cho Anh, Trung Quốc đã bắt đầu mất chủ quyển vẻ đất dai.

Ngày 26/6 Pottinger cử hành nghỉ thức trao đổi Hiệp ước Nam Kinh, Anh lập tức tuyên bố đảo Hồng Kông trở thành một phần lãnh thổ của Anh. Henry Pottinger trở thành Thống đốc đầu tiên của vùng đất này. Như vậy kể từ đây đảo Hồng Kông rơi vào tay của đế quốc Anh. Anh đã biến nơi đây thành một thương cảng, một căn cứ quân sự của mình ở Trung Quốc.

SVTH: Nguyễn Thị Y Vân trang 14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Thị Kim Dung Ngoài việc mất chủ quyền vế đất đai. Việc Trung Quốc mở 5 cửa khẩu cho người Anh được tự do buôn bán đã phá tan chính sách * bếquan tỏa cảng” của nhà Thanh. Trung Quốc phải mở cửa đất nước và bị lôi cuốn vào thị trường tư bản chủ nghĩa. Các nước đế quốc còn đòi triểu đình Mãn Thanh cho lập các tô giới của mình tại các thành phố đó.

Trong các tô giới đó, họ còn có quyền lập tòa thị chính, tòa án, nhà lao, thu thuế. Những việc làm này của chủ nghĩa đế quốc đã biến Trung Quốc từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước nửa phong kiến nửa thuộc địa. Hiệp ước Nam Kinh không chỉ làm cho Trung Quốc mất chủ quyền vế đất dai mà cả quyền thuế quan, quyền xét xử người phạm tội trên đất nước mình cũng không còn. Đồng thời còn mở đường cho hàng loạt các nước phương Tây khác vào xâu xé Trung Quốc.

Sau khi ký hiệp ước Nam Kinh với Anh, triểu đình Mãn Thanh còn ký với các nước tư bản phương Tây khác các hiệp ước bất bình đẳng khác như Hiệp ước Vọng Hạ với Mỹ (7 /1844), với Pháp hiệp ước Hoàng Phố( 10/1844). Sau Mỹ, Pháp là các nước Bỉ, Thụy Điển, Na Uy. cũng thí nhau thiết lập tô giới trên lãnh thổ Trung Quốc. Năm 1845, Anh thiết lập tô giới ở Hoàng Phố, năm 1847 Mỹ thiết lập tô giới ở Thượng Hải.

Năm 1941 Nhật đánh chiếm Hồng Kông và cai trị đến tháng 8 năm 1945. Như vậy, đến thời điểm này Trung Quốc không còn là một nước phong kiến độc lập nữa mà bước đầu td thành một nước nửa phong kiến nửa thuộc địa, trở thành miếng mdi ngon cho các nước đế quốc phương Tây xâu xé. Chiến tranh thuốc phiện lần hai (1856 — 1860) - Hiệp ước Thiên Tân và Hiệp ước Bắc Kinh Hiệp ước Nam Kinh làm cho nhân dân Trung Quốc phản đối mạnh mẽ. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đã diễn ra, tiêu biểu là Thái Bình Thiên Quốc.

Lợi dụng lúc triéu đình Mãn Thanh phải đối phó với tình hình trong nước như vậy, SVTH: Nguyễn Thị Y Vân trang IS Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Thị Kim Dung Liên quân Anh - Pháp da phát động chiến tranh thuốc phiện lin hai để mở rộng xâm lược Trung Quốc. Ngày 23/10/1856 lấy cớ thủy binh Quảng Đông xâm phạm một chiếc tàu buôn Anh, quân Anh đã tiến vào sông Chu Giang bắn phá Quảng Châu. Nhân dân Quảng Châu chiến đấu quyết liệt buộc quân Anh phải rút khỏi Hổ Môn. Ngày 26/12/1857, Liên quân Anh - Pháp tấn công chiếm đóng Quảng Châu.

Tháng 4/1958, quân Anh - Pháp tấn công pháo đài Đại Cô và tiến sát Thiên Tân. Ngày 25/6/1858, triểu đình Mãn Thanh lại ký với Anh - Pháp và một số nước đế quốc khác hiệp ước Thiên Tân với nội dung chủ yếu như sau : 1. Công sứ nước ngoài thường trú tại Bắc Kinh. Mở các cửa khẩu như Ngư Trang, Đăng Châu, Dai Nam, Dam Thủy, Triều Châu, Kinh Châu, Hán Khẩu, Cửu Giang, Nam Kính, Trấn Giang cho nước ngoài thông thương.

Người nước ngoài có quyển vào nội địaTrung Quốc du lịch, buôn bắn, truyền đạo, thuê nhà cư trú. mua đất xây nhà thờ và bệnh viện. Tàu chiến và tàu buôn nước ngoài được tới tất cả các bến của sông Trường Giang. Giảm thuế quan.

Triểu đình Man Thanh bối thường cho Anh 4 triệu lạng bạc, Pháp 2 triệu lạng bạc. Với những điểu khoản được quy định trong Hiệp ước này các nước đế quốc càng tiến sâu vào nội địa lãnh thổ Trung Quốc, nhiều cửa khẩu được mở thêm để cho họ buôn bán, lập tô giới. Đồng thời phải công nhận tự do của người nước ngoài trên đất Trung Quốc. Triểu đình Mãn Thanh tiến thêm một bước trên con đường thỏa hiệp.

Nhưng chưa thỏa mãn được lòng tham ngày 25/6/1859 quân Anh - Pháp tiếp tục bắn phá Đại Cô nhưng thất bại. Đầu năm 1860, chính phủ Anh - pháp diéu SVTH: Nguyễn Thị Y Vân trang l6 Khóa iuận tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Thị Kira Dung động 25.000 quân, với hơn 200 tàu chiến và tàu vận tải đến bờ biển Trung Quốc. Tháng 4/1860, Liên quân Anh - Pháp chiếm Châu sơn, Đại Liên, Diên Đài, tiến sát Đại Cô. Ngày 21/8, chiếm pháo đài Đại Cô, đến tháng 9/1860, tiến đánh Bắc Kinh, nhà Thanh thất bại vì vậy ngày 25/10/1860, triểu đình Mãn Thanh ký Hiệp ước Bắc Kinh với những nội dung chủ yếu sau : |.

Thừa nhận diéu ước Thiên Tân có hiệu lực. Mở thêm cửa Thiên Tân để thông thương. Cho phép người nước ngoài tuyển mộ người Trung Quốc re nước ngoại làm việc. Cat nhượng một vùng Cửu long cho Anh.

Trả lại tài sản của nhà thờ bị tịch thu trước đó, cho phép các nhà truyền giáo Pháp mua đất đai ở các tỉnh để cất nhà. Trung Quốc phải bồi thường cho Anh và Pháp mỗi bên 8 triệu lạng bạc. Hiệp ước Bắc Kinh là hiệp ước bất bình đẳng thứ ba mà triểu đình Mãn Thanh phải ký với các nước tư bản phương tây. Hiệp ước này tuy chỉ ký với Anh - Pháp, nhưng một số nước tư bản khác cũng đòi quyền lợi trên vùng lãnh thổ Trung Quốc.

Hiệp ước này đã mang lại cho Trung Quốc nhiếu bất lợi: tại đây phải mở thêm gần 10 cửa khẩu quan trọng cho các nước tư bản phương Tây được quyền tư do buôn bán và lập tô giới tại đây. Đồng ý cho giáo sĩ phương Tây được tự do truyền giáo, người dan của các nước đế quốc này cũng được quyền tự do trên lãnh thổ Trung Quốc. Điều này đã tạo diéu kiện cho họ dò thám tình hình Trung Quốc chuẩn bị cho việc xâm lược nước này tiếp theo, Trung Quốc còn bị mất chủ quyển về quan thuế, trong khi đó còn phải bồi thường chiến phí nặng nể làm cho nền tài chính bị kiệt qué, kinh tế suy sup, đời sống nhân dân cực khổ. Với bản hiệp ước này Trung Quốc phải cắt bán đảo Cửu Long cho thực dân Anh.

Như vậy cho đến thời điểm này đảo Hồng Kông, bán đảo Cửu Long đã lọt SVTH: Nguyễn Thị Y Vân trang 17 Khóa luận tốt nghiệp GVHD.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ