Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm cơ bản - Hôn nhân:Trong Từ điển tiếng Việt, hôn nhân được hiểu là “Hôn nhân là việc kết hôn giữa nam và nữ.” [74] Theo luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”. Nếu như thời xa xưa khi phương tiện đi lại còn khó khăn, cơ hội gặp gỡ giữa con người với con người còn bó hẹp thì hôn nhân chỉ diễn ra trong một không gian hẹp, hay trong nội bộ một vùng. Rất hiếm khi có những cuộc hôn nhân liên vùng, xuyên vùng vượt ra khỏi không gian sinh tồn, khu vực sinh sống lãnh thổ đất nước thì ngày nay: dưới tác động của toàn cầu hoá, khu vực hoá cộng với phương tiện đi lại giao thông thuận lợi, quan hệ dân tộc, hôn nhân đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, không gian văn hoá….hôn nhân đã mở rộng ra giữa những người có quốc tịch khác nhau sống ở các quốc gia khác nhau và có thể chung một nền văn hoá gốc những cũng có thể khác nền văn hoá. - Hôn nhân xuyên biên giới: là hôn nhân giữa những người có thể là đồng tộc hay khác tộc sống tại khu vực giáp ranh giữa hai nước có chung đường biên giới.
Hôn nhân xuyên biên giới có thể xảy ra giữa những người cùng chung một nền văn hoá gốc hay khác nền văn hoá. Hôn nhân xuyên biên giới cũng có thể xảy ra dưới tác động của nhiều yếu tố, nhưng xét trong góc độ văn hoá tộc người, hôn nhân xuyên biên giới xảy ra khi được mai mối hoặc tự lựa chọn bạn đời Thuật ngữ hôn nhân xuyên biên giới được các nhà khoa học đưa ra từ những năm cuối thế kỷ XX khái niệm hôn nhân xuyên biên giới được hiểu dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Khác với hôn nhân quốc tế- hôn nhân giữa 15 những người có quốc tịch khác nhau được công nhận bởi nhà nước còn hôn nhân xuyên biên giới nhấn mạnh đến ranh giới về mặt địa lý, nhà nước, chủng tộc tầng lớp văn hóa được thiết lập trong một quốc gia có chung đường biên giới. Hôn nhân xuyên biên giới theo Lucy Willam và Mei- Kuei Yu bao gồm các cuộc hôn nhân giữa các tộc người ở các nền văn hoá, các tộc người trong cùng một nền văn hoá, tộc người ở hai quốc gia.
Thuật ngữ này nhấn mạnh đến tính chất xuyên biên giới và đây chính là điều khác biệt của hình thức kết hôn này so với hình thức kết hôn khác cũng phải vượt qua rào cản về không gian địa lý nhưng không phải đường biên giới. Theo định nghĩa này hôn nhân xuyên biên giới có thể diễn ra giữa những người có chung đường biên giới hay không chung đường biên giới [104]. Hôn nhân xuyên biên giới theo Đặng Thị Hoa là các cuộc hôn nhân giữa những người ở các quốc gia có chung đường biên giới. Các cuộc hôn nhân có thể được công nhận về mặt nhà nước những cũng có thể được thừa nhận bởi phong tục tập quán tộc người và được hình thành bởi các mối quan hệ tộc người giữa các tộc người có chung nền văn hóa hay các tương tác xã hội xuyên biên giới [32].
Khái niệm hôn nhân xuyên biên giới nhấn mạnh đến ranh giới về mặt địa lý. Hôn nhân xuyên biên giới không chỉ và không đơn giản là chịu tác động từ yếu tố địa lý kinh tế mà còn chịu tác động tổng hợp từ nhân tố văn hoá, xã hội, sự trao đổi giữa các quốc gia. - Biên giới quốc gia: Theo điều 1 của Luật biên Giới Số 06/2003/QH11 do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày thì: Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước CHXHCN Việt Nam. 16 Trong nghiên cứu về hôn nhân xuyên biên giới của người Hmông tại khu vực biên giới Việt Nam –Lào, cụ thể khu vực xã Nậm Cắn, Huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An, được xác định là các cuộc hôn nhân chủ yếu diễn ra trong nội bộ tộc người, hôn nhân diễn ra trong nội bộ tộc người chỉ tuân theo phong tục tập quán.
Vì vậy khái niệm hôn nhân xuyên biên giới được gói gọn trong mối quan hệ hôn nhân tại khu vực biên giới có đường ranh giới được phân định bởi hai quốc gia có chung đường biên giới, giữa nội bộ tộc người và có chung một nền văn hoá gốc. Nội hàm của hôn nhân trong trường hợp này bao gồm: Ngoại hôn dòng họ: đó là quy tắc kết hôn ngoài dòng họ được luật tục hay tập quán quy định. Những người trong cùng một dòng họ không được phép quan hệ tính giao, kết hôn với nhau nếu vi phạm sẽ bị phạt theo quy định của luật tục. Ngoại hôn dòng họ không phân biệt khoảng cách địa lý.
Trong hôn nhân của người Hmông miễn là người đồng tộc không trùng họ và bất kể khoảng cách địa lý vẫn có thể kết hôn. Nội hôn tộc người: Đó là quy tắc chỉ kết hôn với người đồng tộc trong cộng đồng người Hmông mà không kết hôn với các tộc người khác. Lý thuyết áp dụng Hôn nhân và gia đình là một thiết chế xã hội mang tính hạt nhân, ở đó đã quy tụ những nét tiêu biểu cho văn hoá của mỗi tộc người và mang tính đặc trưng của một xã hội truyền thống. Những phong tục tập quán trong hôn nhân gia đình không chỉ có những ảnh hưởng đến mỗi thành viên trong gia đình mà còn có tác động không nhỏ tới đời sống văn hoá tinh thần của cả cộng đồng tộc người và xã hội.
- Thuyết bản sắc văn hóa của F. Thuyết bản sắc văn hóa được F.Boas đưa ra nhằm nhấn mạnh tính đặc thù văn hóa tộc người. Theo quan điểm này các nhà nghiên cứu thường nhấn mạnh đến bản sắc riêng trong văn hóa của mỗi đồng tộc người. Các nhà nhân 17 học cho rằng hôn nhân xuyên biên giới có thể diễn ra trong nội bộ của một cộng đồng tộc người (inntra- community marriage) hay giữa các cộng đồng tộc người ( Inter- community mariage).
Hôn nhân trong nội bộ đồng tộc người diễn ra giữa những người đến từ mrột nền văn hóa gốc, một cộng đồng người gốc [102], chẳng hạn các cuộc hôn nhân diễn ra giữa những người thuộc trong cùng một cộng đồng tộc người, có thể ở một bên hoặc hai bên bên kia biên giới. Hôn nhân liên cộng đồng diễn ra giữa những người đến từ nền văn hóa khác nhau, các cộng đồng người khác nhau [102. Các cuộc hôn nhân này diễn ra giữa những cộng đồng tộc người khác nhau cùng cư trú ở vùng biên giới hoặc có mối liên hệ thường xuyên với nhau ở các nước lân cận nhau hay nói cách khác là giữa những nền văn hoá đang có xu hướng trộn lẫn vào nhau. Đó là những cuộc hôn nhân bắt nhuồn từ phong tục tập quán địa phương hay bởi các quan hệ trong mạng lưới xã hội.
Nghiên cứu về hôn nhân xuyên biên giới của người Hmông xã Nậm Cắn theo quan điểm về bản sắc văn hóa tộc người, hôn nhân được diễn ra là một tất yếu bởi hôn nhân xuyên biên giới cững mang đậm yếu tố văn hóa tộc người theo đó, nền văn hóa tộc người là một trong những đặc trưng để hình thành các cuộc hôn nhân thông qua các mối quan hệ thân tộc, gia đình mối quan hệ đồng tộc, quan hệ gia đình vùng biên giới. Những trường hợp kết hôn ở các vùng biên giới Việt Nam nói chung, biên giới Nghệ An- Xiêng Khoảng nói riêng đã minh chứng cho luận điểm này. Trên thực tế bên cạnh những cuộc hôn nhân xuyên biên giới với lí do kinh tế còn nhiều trường hợp kết hôn xuyên biên giới cong xuất phát từ mô hình lựa chọn bạn đời lí tưởng. Theo Caroline Grillot, yếu tố kinh tế chưa đủ để giải thích hôn nhân xuyên biên giới.
Trên thực tế ranh giới về địa lý thường không mạnh bằng biên giới xã hội và cách thức trong đó các cộng đồng tộc người tương tác với nhau, cách thức họ đánh giá, xây dựng và thể hiện định nghĩa chính họ trong 18 sự phân biệt giữa những nhóm người khác, ảnh hưởng đến sự lựa chọn tình trạng sống của họ ở những vùng đặc biệt như vùng biên. Những cư dân sống ở dọc biên giới hai nước bị ảnh hưởng bởi những hình ảnh, biểu tượng và tin đồn về nhau [92. Tr, 36] do vậy nghiên cứu về hôn nhân xuyên cần phải đặt trong bối cảnh văn hóa tộc người. - Lí thuyết về biên giới: Lí thuyết về biên giới được Andrew Walker đưa ra với quan điểm những vấn đề của cư dân vùng biên giới thường vượt qua các giới hạn của nhà nước.
Các quy định của nhà nước thường được thực hiện đan xen với những quy định của địa phương, phong tục tập quán trong phạm vi và sự điều hành của những người có vai trò ở các địa phương trong hoạt động quản lý. Các hoạt động của cư dân vùng biên giới thường được tuân theo tập quán và đặc trưng văn hoá, ít tuân theo những áp đặt của nhà nước. Cư dân vùng biên giới hầu hết là các bộ tộc sinh sống từ lâu đời có quan hệ mật thiết với đồng tộc xuyên biên giới. Trong lịch sử hiện tượng này diễn ra một cách tự nhiên không bị ai ngăn cấm.
Nhưng trong giai đoạn hiện nay khi mà biên giới quốc gia đã được định hình, được kiểm soát chặt chẽ, do vậy các mối quan hệ thăm thân qua lại xuyên biên giới càng bị thắt chặt hơn. Trong nghiên cứu này, lí thuyết vùng biên giới được sử dụng để tìm ra những tương tác giữa quản lí hôn nhân xuyên biên giới giữa các quy định về mặt hành chính với những luật tục của người Hmông trong các mối quan hệ gia đình, xã hội. Hôn nhân xuyên biên giới của người Hmông tại xã Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn là một hiện tượng tất yếu xảy ra từ lâu đời. Lí thuyết về biên giới trong hôn nhân xuyên biên giới được đặt ra trong bối cảnh các cuộc hôn nhân xuyên biên giới thường xuyên diễn ra theo cách mà người dân địa phương đã lựa chọn.
cùng cư trú trên địa bàn, cùng có chung những đặc trưng văn hoá và gần gũi trong phong tục tập quán. Các cuộc hôn nhân này thường là kết quả 19 của những tương tác văn hoá, tương tác xã hội xuyên biên giới.