Chương 1: KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ KINH QUR’AN 1. Nguồn gốc kinh Qur’an Khi nghiên cứu nguồn gốc, nội dung tư tưởng kinh sách tôn giáo, xét về mặt kết cấu tôn giáo, theo tôn giáo học mác xít, kinh sách phản ánh hệ tư tưởng tôn giáo. Hơn nữa, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, một hình thức phản ánh đặc biệt thế giới hiện thực, nên khi nhận định về tôn giáo phải xem xét nó như một kết cấu của xã hội, một hiện tượng kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp. Tôn giáo hiện đại xuất hiện trong xã hội có giai cấp, bao gồm ba yếu tố cơ bản: ý thức tôn giáo, sự thờ cúng tôn giáo và tổ chức tôn giáo.
Trong đó ý thức tôn giáo là yếu tố quan trọng nhất. Ý thức tôn giáo phản ánh toàn bộ tâm lý tôn giáo và hệ tư tưởng tôn giáo. Bộ phận trung tâm, hạt nhân của hệ tư tưởng tôn giáo chính là thần học. Thần học có vai trò quan trọng, là nhân tố để củng cố và duy trì đức tin tôn giáo.
Nếu thần học bị lợi dụng để vào mục đích nào đó, sẽ làm nó “méo mó, biến dạng” cái “bản chất” vốn có của tôn giáo. Nhận định về điều này, khi phê phán những quan niệm về tôn giáo, C.Mác cho rằng: “Người ta xuất phát từ tôn giáo chính cống và từ thần học chính cống. Cái mà trước kia người ta coi là ý thức tôn giáo, là quan niệm tôn giáo thì sau này lại được quy định theo nhiều cách khác nhau. Toàn bộ bước tiến là ở chỗ những quan niệm siêu hình, quan niệm chính trị, quan niệm pháp luật, quan niệm đạo đức và những quan niệm khác mà người ta cho là những quan niệm thống trị, đều được liệt vào những quan niệm tôn giáo hay thần học; cũng như ở chỗ người ta tuyên bố rằng ý thức chính trị, ý thức pháp luật, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo hay ý thức thần học, rằng con người chính trị, con người pháp luật, con người đạo đức – xét cho cùng “con người nói chung” – là con người tôn giáo”[52;26-27].
Ngược lại, thần học cũng có thể làm “biến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 dạng” tôn giáo khi nó trở thành “bà đỡ” cho chính trị. Trong kết cấu tôn giáo, tâm lý tôn giáo, sự thờ cúng tôn giáo, tổ chức tôn giáo là những yếu tố có thể biến đổi, duy chỉ có ý thức hệ tôn giáo là không thể thay đổi, mà kinh sách của các tôn giáo chứa đựng những tư tưởng ý thức hệ tôn giáo là “bất di bất dịch”, kinh sách của tôn giáo đóng vai trò quan trọng đối với việc củng cố đức tin, duy trì đức tin và thực hành đức tin. Những tư tưởng thần học trong kinh sách tôn giáo phản ánh lý tưởng của chính tôn giáo ấy, mục đích mà nó hướng tới. Tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể của sự hình thành và phát triển của mỗi tôn giáo mà kết cấu, nội dung của thần học có thể khác nhau, song bất kỳ một hệ thống thần học nào cũng đặt cho mình nhiệm vụ chứng minh sự tồn tại của cái siêu nhiên thần thánh, lập luận cho tính đúng đắn của giáo lý, sự linh thiêng của kinh thánh, của những điều răn dạy về đạo đức, lễ nghi tôn giáo.
Nếu xét dưới góc độ văn hóa thì kinh sách tôn giáo là di sản văn hóa quý báu của loài người. Nội dung kinh sách phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan tôn giáo. Đối với mỗi tôn giáo, kinh sách được coi là bộ phận quan trọng nhất để thực hành giáo lý và đức tin. Kinh sách tôn giáo là sản phẩn sáng tạo tuyệt vời của bộ óc con người, những tư tưởng trong Kinh sách tôn giáo đều có nguồn gốc hiện thực của nó, từ những tiền đề vật chất hiện thực.Mác cũng cho rằng: “sự sản xuất ra những ý niệm, những quan niệm và ý thức thì lúc đầu trực tiếp gắn liền mật thiết với hoạt động vật chất và với sự giao tiếp vật chất của con người – ngôn ngữ của đời sống hiện thực.
Ở đây, những quan niệm, tư duy, sự giao tiếp tinh thần của con người xuất hiện ra còn là sản phẩm trực tiếp của những quan hệ vật chất của họ. Đối với sự sản xuất tinh thần, đúng như nó biểu hiện trong ngôn ngữ của chính trị, của pháp luật, của đạo đức, của tôn giáo, của siêu hình học.v trong một dân tộc cũng thế…Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người”[52;37]. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Như vậy, tôn giáo là sản phẩm sáng tạo tinh thần của con người, là sản phẩm của sự “tồn tại được ý thức” của con người trong đời sống hiện thực. Hệ tư tưởng tôn giáo, kinh sách tôn giáo cũng đều bắt nguồn từ những “cội rễ” của đời sống hiện thực, của quá trình hoạt động thực tiễn của con người.
Không nằm ngoài quy luật đó, Kinh sách của mỗi tôn giáo hình thành không chỉ là sản phẩm hoạt động tinh thần của con người, nhu cầu truyền bá tư tưởng giáo thuyết tôn giáo mà bắt nguồn từ chính những tiền đề kinh tế xã hội, từ tồn tại xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định mà tôn giáo đó ra đời. Kinh sách của tôn giáo vừa là sản phẩn sáng tạo của bộ óc con người, vừa là sự kế thừa những thành quả của nền văn hóa mà nó ra đời đồng thời cũng là sự tiếp thu ảnh hưởng của những nền văn hóa khác, của những tôn giáo trước nó. Ví như, Phật giáo là một tôn giáo lớn, với hệ thống kinh sách đồ sộ “thiên kinh vạn quyển”. Kinh điển Phật giáo chịu ảnh hưởng của chính hệ ngôn ngữ, văn hóa mà nó truyền thừa.
Nếu như kinh điển của Phật giáo Nguyên thủy ở Ấn Độ, phần nhiều chịu ảnh hưởng trực tiếp của nền văn hóa tiền Vedda và Vedda, ảnh hưởng của tư tưởng kinh Vedda, tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại và Upanissad, Bà la môn. Thì kinh điển của các tông phái Phật giáo truyền thừa ở Tây Tạng lại vừa có sự kế thừa của kinh điển Phật giáo Nguyên thủy, đồng thời chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ, văn hóa Tây Tạng… Hay, Thánh kinh của Ki tô là sản phẩm của văn hóa La Mã, phản ánh những giá trị văn hóa La Mã và chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại, tư tưởng của đạo Do Thái. Với Islam thì kinh Qur’an (Hình 1) ra đời trên bán đảo Ả rập là sản phẩm của nền văn hóa Ả rập, phản ánh những giá trị văn hóa trên bán đảo Ả rập, ảnh hưởng bởi những điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, tín ngưỡng của bán đảo Ả rập. Đối với người Muslim, kinh Qur’an được thiêng liêng hóa, coi là chân lý, trong đó có những điều răn dạy về giáo lý, luật lệ, lễ nghi, sự thờ phụng, cách thức hành đạo, điều kiện nhập đạo, mối quan hệ gia đình, xã hội, đồng đạo, các nguyên tắc cư xử…tất cả việc “đạo” và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Kinh Qur’an thường được lấy làm chuẩn mực cho tất cả, được lấy để giải quyết mâu thuẫn trong phiên tòa, trong sự tranh chấp, xô xát. Bối cảnh ra đời Kinh Qur’an, theo cách chuyển biên thông thường và trong ngữ nghĩa mà chúng ta thường hay dùng, thì đó chính là kinh Thánh của cộng đồng Islam. Nó hàm chứa những mặc khải bằng tiếng Ả rập mà chính Thượng Đế Allah thỉnh thoảng gửi qua thiên thần Gabriel xuống cho sứ giả của Ngài là Muhammed từ năm 610 trước Công Nguyên cho đến khi ông mất vào năm 632 trước Công Nguyên, thời kỳ này cũng chính là những năm mà cộng đoàn Islam đầu tiên được thành hình. Nếu xét về mặt ngữ nghĩa, khi từ “Qur’an” được sử dụng trong các bản văn, thì nó có nghĩa là “đọc” hay “suy ngẫm lại” những điều mà Thượng Đế đã khắc trong trong tim của Muhammad, truyền lệnh cho ông hãy đọc và rao giảng cho muôn dân.
Chính vì thế, theo nguyên bản, thì kinh Qur’an chính là một bản “kinh Thánh” đọc bằng miệng và cho đến ngày nay chúng ta vẫn thường nghe kinh ấy được trình bày dưới dạng ca ngâm có nhịp điệu. Một khoảng thời gian ngắn sau cái chết của Muhammed, những người Islam tiên khởi đã thu thập các bản văn về những lời mạc khải được nhớ lại bởi những người bạn đồng hành với vị sứ giả Muhammed và từ một số bản viết tay của họ, để rồi, họ gom góp và hệ thống hóa thành kinh Thánh, như là những ấn bản chuẩn mà chúng ta có được ngày nay. Kinh Qur’an gồm có các đoạn thơ, được mô tả như là “những dấu chỉ” phi thường từ Thượng Đế, và được sắp xếp thành 114 thiên Sura hay chương, mỗi chương có một tên riêng, được lấy trong từ ngữ chính của bản văn. Xét về mặt nhận thức, người Islam nghĩ về kinh Qur’an cũng giống như một thông điệp được trình bày bằng tiếng Ả rập mà Thiên Chúa trước kia đã truyền phán tại Torah, qua trung gian của Mosê, giống hệt như Phúc Âm là qua chính Chúa Giêsu.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Kinh Qur’an được hình thành cùng với quá trình hình thành đạo Islam trong buổi đầu sơ khai, gắn liền với bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tín ngưỡng tôn giáo trên bán đảo Ả rập. Ảrập là một bán đảo lớn ở Tây Nam châu Á, tiếp giáp giữa ba châu: châu Á, châu Âu và châu Phi, lại nằm trên con đường giao lưu quốc tế nối các trung tâm văn hóa cổ kính của thế giới về cả đường bộ và đường thủy nên từ lâu Ảrập đã có một nền văn hóa khá đặc biệt và giữ một vai trò quan trọng trong văn minh thế giới. Về phương diện địa lý, Ảrập là một cao nguyên đá hoa cương hơi nghiêng về phía vịnh Ba Tư, được bao quanh bởi những dãy núi không cao. Khí hậu vùng này rất nóng, ít mưa, về phương Nam có gió mùa nên đời sống dễ chịu hơn.
Bởi thế, có người ví Ảrập như một lò lửa khổng lồ, là nơi xuất phát những tôn giáo làm dịu lòng nhân thế nhưng âm ỉ thiêu đốt đám dân nghèo khó. Thời thượng cổ người ta chỉ biết nhiều đến vùng bờ biển phía Tây từ Hồng Hải tới cao nguyên Nedjed, từ bán đảo Sinai đến phía Nam thành phố Mecca - chính ở vùng này Islam đã ra đời và là bàn đạp để truyền đạo tới cả ba Châu tiếp giáp.