Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA 1. QUAN ĐIỂM MÁC XÍT VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Hôn nhân và gia đình là thiết chế cơ bản của mọi xã hội. Thiếu chúng thì xã hội loài người sẽ không phát triển được một cách bình thường, mạnh mẽ và tiến bộ. Trước khi nghiên cứu về gia đình, các nhà kinh điển mác- xít đã xem xét vấn đề hôn nhân trên rất nhiều bình diện.Ăngghen đã chứng minh một cách khoa học rằng hôn nhân và gia đình là những phạm trù phát triển theo lịch sử, rằng giữa chế độ kinh tế - xã hội và tổ chức gia đình có mối liên hệ chặt chẽ và trực tiếp.
Điều này được trình bày khá chi tiết trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” (1884). Với tác phẩm này, Ph.Ăngghen góp phần xuất sắc vào việc đi sâu, tiếp tục phát triển học thuyết của Mác về vấn đề hôn nhân và gia đình. Bởi đây là chủ đề quan trọng nhất của tác phẩm được đề cập dưới góc độ lịch sử và được xem xét trên hai phương diện: gia đình ra đời trên cơ sở của sự phát triển kinh tế xã hội đồng thời nó tác động trở lại cơ sở kinh tế - xã hội; mặt khác, sự phát triển của các thiết chế, các hình thức hôn nhân và gia đình là sự kế tiếp nhau bởi những thiết chế và hình thức có trước và tạo ra những tiền đề cho thời kỳ tiếp theo. Về hôn nhân Vấn đề hôn nhân và gia đình đã được các nhà kinh điển nghiên cứu với một ý thức đầy đủ nhất, khoa học nhất.Ăngghen, loài người đã trải qua ba hình thức hôn nhân chính tương ứng với ba giai đoạn chủ yếu trong lịch sử phát triển xã hội loài người: ở thời mông muội có chế độ quần hôn, thời đại dã man có chế độ hôn nhân đối ngẫu và thời đại văn minh có chế độ hôn nhân một vợ một chồng kèm theo tệ ngoại tình và nạn mại dâm.
11 Trong quá trình nghiên cứu các hình thức gia đình và hôn nhân dưới chế độ tư hữu, Ph.Ăngghen đã đề cập đến hôn nhân trong gia đình tư sản. Theo ông, các cuộc hôn nhân của giai cấp thống trị là một việc có tính toán lợi hại, do cha mẹ thu xếp và mục tiêu là nhằm duy trì sự kế thừa tài sản, giống như trong các xã hội tồn tại chế độ tư hữu trước đây. Điều này luôn luôn đúng, kể cả trong môi trường đạo Thiên chúa hay đạo Tin lành thì hôn nhân trong chế độ tư sản đều dựa trên địa vị giai cấp của đôi bên, vì vậy, hôn nhân luôn luôn là hôn nhân có tính toán….Ăngghen cho rằng để xây dựng chế độ hôn nhân bền vững và cuộc sống gia đình hạnh phúc thì hôn nhân phải bắt nguồn từ tình yêu nam nữ và sự tự do hôn nhân. Nghiên cứu các cung bậc và tìm hiểu bản chất đích thực của tình yêu nam nữ cũng như vai trò của tình yêu đối với hôn nhân và gia đình, theo Ph.Ăngghen thì trong thời trung cổ không thể nói đến tình yêu cá nhân giữa trai gái được.
Tuy nhiên, với vẻ đẹp tự nhiên, bao giờ cũng làm nảy nở trong đôi bên nam nữ sự thèm muốn có quan hệ tình dục với nhau, nhưng từ đó đến tình yêu nam nữ như chúng ta thấy ngày nay, thì còn vô cùng xa. Bởi vì, các cuộc hôn nhân trong giai đoạn này đều do cha mẹ quyết định thay con cái, và con cái đều yên tâm vâng theo. Nếu "người ta thấy có đôi chút tình yêu giữa vợ chồng, thì tình yêu đó không phải là một sở thích chủ quan, mà là một nghĩa vụ khách quan; không phải là cơ sở của hôn nhân, mà là điều bổ sung cho hôn nhân" [25, tr. Ông cho rằng tình yêu nam nữ ngày nay khác về căn bản với tình dục đơn thuần, nó đòi hỏi phải là sự rung cảm thực sự giữa đôi bên và chính điều này nó tạo nên "một sức mạnh và sự bền bỉ đến mức khiến cho hai bên thấy không lấy được nhau và phải xa nhau là một điều đau khổ lớn nhất; để lấy được nhau, hai người phải đánh nước liều, có khi phải hy sinh cả tính mạng; điều đó, trong thời cổ, hoạ chăng chỉ xảy ra trong trường hợp ngoại tình mà thôi" [25, tr.Ăngghen, tình yêu đích thực giữa nam và nữ là nền tảng cho hôn nhân bền vững, và cùng với nó là quyền tự do kết hôn giữa nam và nữ dựa trên cơ sở tình yêu.
Tuy nhiên, dưới chế độ tư hữu không thể có quyền tự do hôn nhân, bởi vì, quyền này gắn chặt với quyền thừa kế tài sản và việc duy trì địa vị chính trị, và quyền này được quyết định bởi cha mẹ của đôi bên. Tự do hôn nhân như một nghịch lý, nó không thể có được ở giai cấp bóc lột, nhưng nó lại tồn tại một cách hiện hữu ở giai cấp bị bóc lột, ông viết: "giai cấp thống trị bị chi phối bởi những ảnh hưởng kinh tế mà mọi người đều biết, cho nên những trường hợp thực sự tự do kết hôn trong giai cấp đó là ngoại lệ; còn trong giai cấp bị áp bức, như chúng ta đã thấy, những cuộc hôn nhân thật sự tự do đó lại là thông lệ"[25, tr. Muốn cho quyền tự do kết hôn được thực hiện đầy đủ và phổ biến thì phải xoá bỏ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng như các quan hệ tài sản do nền sản xuất ấy tạo ra, phải gạt bỏ được tất cả những lý do kinh tế - những lý do phụ nhưng vẫn đóng vai trò quyết định trong các cuộc hôn nhân.Ăngghen cho rằng khi nền sản xuất tư bản chủ nghĩa tiêu vong, tình yêu nam nữ sẽ là nền tảng vững chắc cho hôn nhân gia đình và điều này sẽ được quyết định bởi một thế hệ mới sẽ lớn lên: một thế hệ đàn ông không bao giờ phải dùng tiền hoặc dùng những phương tiện quyền lực xã hội khác để mua sự hiến thân của người đàn bà, và một thế hệ đàn bà không bao giờ phải hiến mình cho đàn ông vì một lý do nào khác ngoài tình yêu chân chính, hoặc phải từ chối không dám hiến mình cho người yêu vì sợ những hậu quả kinh tế của sự hiến thân đó [25,tr. Là học trò xuất sắc của C.Lênin đã phát triển học thuyết của Mác và Ăngghen trong giai đoạn lịch sử mới: giai đoạn CNTB chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn CNĐQ, và giai đoạn CNXH từ lý luận trở thành hiện thực.
Trong giai đoạn này, bản chất xã hội của chế độ hôn 13 nhân và gia đình trong xã hội tư bản vẫn không thay đổi, thậm chí còn tồi tệ hơn. Giai cấp tư sản đã bộc lộ sự giả dối ngày càng trắng trợn.Lênin đã chỉ ra sự giả dối đó và đi đến kết luận "Bất cứ người nào, dẫu chỉ biết sơ lược luật pháp của các nước tư sản về hôn nhân, về ly dị về các con hoang, cũng như về tình hình thực tại mà có quan tâm đến vấn đề thì đều thấy rằng: Về phương diện đó, chế độ dân chủ tư sản ngày nay, trong tất cả những nước Cộng hòa tư sản dân chủ nhất cũng đều tỏ ra là một thái độ thật sự phong kiến đối với phụ nữ và các con hoang" [19, tr. Trong "Diễn văn tại Đại hội I các nữ công nhân toàn Nga" năm 1918 VI.Lênin đã chỉ ra sự bất bình đẳng của xã hội đối với phụ nữ: họ trở thành nô lệ của gia đình: .Ở tất cả các nước văn minh, thậm chí cả các nước tiên tiến nhất, chị em phụ nữ đã ở vào tình trạng khiến cho người ta gọi họ một cách rất đúng là nô lệ của gia đình. Không có một nước tư bản nào, dù là ở nước cộng hòa tự do nhất cũng vậy, mà ở đó chị em phụ nữ lại được hưởng quyền bình đẳng một cách đầy đủ hoàn toàn [16, tr.Lênin chỉ ra rằng, hôn nhân trong xã hội mới là hôn nhân đảm bảo quyền bình đẳng và quyền tự do của phụ nữ lao động.
Vấn đề mà chúng ta cần giải quyết là đấu tranh chống tệ hôn nhân chịu ảnh hưởng của tôn giáo ở nông thôn là nhằm mục tiêu giải phóng hoàn toàn mọi tầng lớp phụ nữ.Lênin viết: "Cho đến nay, ở đấy hôn nhân có tính chất tôn giáo vẫn thịnh hành. Phụ nữ phải chịu như vậy là do ảnh hưởng của cha cố" [16, tr.Lênin khẳng định chỉ có cách mạng XHCN mới thực hiện được nhiệm vụ giải phóng phụ nữ, xây dựng một chế độ hôn nhân một vợ một chồng theo đúng bản chất của nó: "Cho đến nay, chưa có nước cộng hòa nào đã có thể giải phóng được phụ nữ. Chính quyền Xô viết đang giúp đỡ phụ nữ. Sự nghiệp của chúng ta là vô địch vì ở tất cả các nước, giai cấp công nhân bất khuất đang nổi dậy" [16, tr.
Về gia đình Vấn đề hôn nhân và gia đình đã được nghiên cứu với một ý thức đầy đủ nhất, khoa học nhất C.Ăngghen coi vấn đề gia đình như là một nhân tố có ý nghĩa quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Sự vận động và phát triển của gia đình được xem là thước đo để đánh giá sự vận động và phát triển của một xã hội nhất định. Hay có thể khẳng định gia đình có tác động quan trọng đến tiến trình phát triển của xã hội.Ăngghen chỉ ra rằng: Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy cho đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Những thiết chế xã hội, trong đó con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống là do hai loại sản xuất đó quyết định: Một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình [26, tr.
Khái quát vấn đề gia đình như là một hiện tượng lịch sử tự nhiên mang tính xã hội, từ thừa nhận gia đình là sản phẩm của xã hội, của lịch sử và vận động trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, Ph.Ăngghen đã khẳng định: "Gia đình là một yếu tố năng động, nó không bao giờ đứng nguyên một chỗ mà chuyển từ một hình thức thấp đến một hình thức cao khi xã hội phát triển từ một giai đoạn thấp đến một giai đoạn cao" [25]. Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội đã được Ph.Ăngghen tập trung phân tích.