Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỌC THEO VẤN ĐỀ 1. Tổng quan về việc nghiên cứu và vận dụng học theo vấn đề Các cách tiếp cận về HTVĐ đã được các nhà sư phạm quan tâm nghiên cứu trong nhiều thập kỷ và đã xây dựng thành hệ thống lý luận dạy học, đã được công bố trong nhiều sách giáo khoa của các trường sư phạm trên thế giới và ở trong nước. Tình hình nghiên cứu và vận dụng học theo vấn đề trên thế giới - Tư tưởng DHNVĐ, DHGQVĐ, HTVĐ ở các mức độ khác nhau đã xuất hiện khá sớm. Từ thời Hy Lạp cổ đại, Socrates đã chú ý đến “tính VĐ” trong dạy học.
- Năm 1910, lần đầu tiên quan điểm về DHNVĐ đã được John Dewey trình bày trong cuốn “Chúng ta suy nghĩ như thế nào”, sau đó được hoàn chỉnh hơn vào năm 1933 và tái bản nhiều lần. Ôkôn (nhà giáo dục Ba Lan) đã hoàn thành một công trình khá hoàn chỉnh và có giá trị về DHGQVĐ. Trong đó, tác giả đã trình bày tương đối đầy đủ về cơ sở lý luận và quy trình tạo THCVĐ [44]. - Tại Liên xô (cũ) đã có nhiều tác giả nghiên cứu và vận dụng DHNVĐ trong dạy học như: M.
Makximova,… - HTVĐ được giới thiệu từ những năm 1960, trong chương trình y khoa, tại trường Đại học McMaster, Canada. Barrows đã đề xuất một chương trình “ngược” với chương trình giảng dạy từ khoa học cơ bản đến lâm sàng, từ đó phát triển mô hình HTVĐ. HTVĐ cho thấy có sự phù hợp với mục tiêu giáo dục, không đơn giản chỉ là nhớ kiến thức mà cung cấp các kỹ năng cần thiết, có hiệu quả cho việc sử dụng kiến thức trong tương lai [55], [56], [110]. Sau đó, những nghiên cứu khác trong trường đã cung cấp những hướng dẫn HTVĐ, vai trò của người hướng dẫn, thành lập nhóm, đánh giá trong HTVĐ [108], xác định ưu thế của HTVĐ phù hợp với nhu cầu của SV và của xã hội [102].
Chương trình giảng dạy HTVĐ được đánh giá là phù hợp cho chương trình giảng dạy đại học [52], [66], [77]. HTVĐ nhanh chóng lan rộng và được chấp nhận tại Bắc Mỹ và Châu Âu. Các trường tại Mỹ, như trường Đại học Y khoa Feinberg thuộc Đại học Northwestern, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 yêu cầu SV tham gia vào GQVĐ; phát triển khả năng tự đánh giá và học tập nhóm; sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin [92]; trường Đại học Michigan State, xuất phát từ nguyên tắc việc học xảy ra tốt nhất khi được GQVĐ, SV làm việc theo nhóm, tích hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau để giải thích những triệu chứng được mô phỏng trên một bài báo [89]; ở trường Đại học Delaware, nhiều GV đã xác định học tập thách thức SV “học để tìm hiểu”, kích thích sự tò mò, hợp tác để tìm kiếm giải pháp cho các VĐ thế giới thực, chuẩn bị cho SV suy nghĩ phê phán, phân tích, tìm kiếm và sử dụng tài nguyên học tập thích hợp [88], giới thiệu những kiến thức và kinh nghiệm thực tế trong gần một thập kỉ tích hợp HTVĐ trong các khóa học ở một loạt các lĩnh vực như sinh hóa, vật lý, hóa học, y tế, pháp luật, chính trị và sư phạm [65]; tại trường Đại học Southern Illinois (SIU), chương trình giảng dạy bao gồm một loạt các vấn đề, SV tìm hiểu thông tin của nhiều lĩnh vực liên quan đến nhu cầu cá nhân, học tập tự định hướng liên quan đến một VĐ rồi tự đánh giá và được bạn bè đánh giá [96]. Tại Canada, dự án Kỹ thuật và y học tại trường Đại học Sherbrooke đã đo lường tác động của các chương trình giảng dạy sáng tạo như HTVĐ vào sự tham gia và kiên trì của HS [57].
Ở Anh Quốc, trường Đại học Queen, Belfast yêu cầu SV tốt nghiệp cần phải biết tự lực, phân tích, GQVĐ trong cuộc sống; tích hợp kiến thức từ một số ngành, có kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm hiệu quả, nên “bất kỳ môi trường học tập nào cũng chú ý vấn đề thúc đẩy việc học tập” (Don Woods) [95]. Ở Hà Lan, trường Đại học Maastricht áp dụng có hiệu quả và thành công HTVĐ trong tất cả các chương trình giảng dạy vì họ cho rằng HTVĐ minh họa rõ ràng đặc tính sáng tạo của trường đại học, SV sẽ được trang bị tốt hơn để GQVĐ trong thực tế và khi tốt nghiệp SV có sự tự tin, độc lập và quyết đoán khi phân tích một VĐ, biết tiến hành và chủ trì các cuộc thảo luận, trình bày ý tưởng rõ ràng, phù hợp với các nhà tuyển dụng [94]. HTVĐ cũng lan rộng tới nhiều trường đại học ở Úc [93], Châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc,…) và nhiều nước đang phát triển ở Đông Nam Á (Singapore, Malaysia), với phương châm chú trọng đến cách học nhiều hơn là học cái gì. Trong cách học, hai điều then chốt là “Tự học” và “Sáng tạo” được đề cao.
Thường các bài giảng không chú trọng việc giảng bài dài dòng lý thuyết mà theo cách hướng dẫn tìm tòi và nghiên cứu dựa theo VĐ. HS có thể tiến hành nghiên cứu theo nhóm và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 tự tìm kiếm những thông tin được tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau, GV tổng kết, điều chỉnh và bổ sung những thông tin quan trọng [63], [97], [98]. Các nghiên cứu ứng dụng HTVĐ ở Nhật Bản xác định sự tham gia của SV tại các môi trường học tập khác nhau, cách thức SV đàm phán và xây dựng ý nghĩa thông qua sự tương tác trong HTVĐ [75], những nghiên cứu cho các ngành cụ thể cũng được chú trọng và xác định việc SV độc lập khám phá tìm kiếm kiến thức, thực hành, đưa ra các giải pháp sẽ giúp cho nhận thức của SV về kiến thức và kỹ năng tăng lên đáng kể, tạo cơ sở cho việc chuẩn bị cải cách chương trình giảng dạy [84]. Nghiên cứu ứng dụng HTVĐ tại Hàn Quốc cho thấy việc cải thiện kỹ năng tư duy phê phán và tự định hướng của SV khi GQVĐ [61], khi mô phỏng tích hợp HTVĐ trong giáo dục cho thấy hiệu quả làm tăng khả năng tự lực của SV [85], nghiên cứu điều tra nhận thức của SV về các kỹ năng của người hướng dẫn trong việc hỗ trợ nhóm, đánh giá được sự khác biệt trong nhận thức của SV về hiệu suất hướng dẫn và nền tảng của người hướng dẫn trong HTVĐ [67].
Nghiên cứu giới thiệu mô hình HTVĐ ở Malaysia trong dạy học toán học chỉ ra mục đích giáo dục những công dân có trách nhiệm trong sự phát triển bền vững của đời sống thực tế, xác định bốn khu vực là nội dung, quá trình tư duy, kỹ năng và giá trị được tích hợp trong HTVĐ [106], SV đạt được các kỹ năng áp dụng kiến thức, làm việc nhóm, giao tiếp, tính chuyên nghiệp, lãnh đạo, GQVĐ, tư duy phê phán [103]. Ở Singapore, Republic Polytechnic là một trong năm trường Bách khoa kỹ thuật, đào tạo các chuyên ngành công nghệ kỹ thuật, quản lý kinh tế,… đã áp dụng chủ yếu HTVĐ trong các khóa học. Tại đây áp dụng phương pháp mỗi ngày một vấn đề, không có bài giảng theo lịch trình nên SV tốt nghiệp có kiến thức chuyên môn vững vàng, kiến thức xã hội sâu rộng, có khả năng bắt nhịp nhanh với công nghệ và môi trường sống hiện đại [91]. - HTVĐ được nghiên cứu và vận dụng khá phổ biến trong lĩnh vực giáo dục y tế với lý do đưa ra là sự bùng nổ thông tin y tế, công nghệ mới và nhu cầu thực tiễn, đã đòi hỏi sự thay đổi về chương trình và PPDH [58].
HTVĐ cũng được chú trọng trong các chương trình giáo dục như toán học, pháp luật, kinh tế, kinh doanh, nghiên cứu xã hội, kỹ thuật, khoa học, giáo dục, nghệ thuật,… [79]. Khi tiến hành thực nghiệm nhóm HS được HTVĐ trong môn toán học, các tác giả nhận thấy các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 9 em có khả năng GQVĐ tốt hơn so với nhóm HS được hướng dẫn theo phương pháp truyền thống. Nghiên cứu còn tạo cơ sở cho việc chuẩn bị cải cách chương trình giảng dạy toán học [83]. Nghiên cứu kiểm tra các GV trung học trong việc sử dụng các công cụ dựa trên công nghệ HTVĐ trong giảng dạy, đã xác định bốn yếu tố cung cấp động lực cho GV để họ áp dụng giảng dạy HTVĐ dựa trên môi trường đa phương tiện, có sự hỗ trợ hành chính và kỹ thuật; phù hợp với GV và hỗ trợ các nhu cầu học tập của HS [82].
Nghiên cứu về kinh nghiệm của SV trong HTVĐ liên ngành để cung cấp cho SV cơ hội để phát triển các kỹ năng cần thiết, có tiềm năng để nâng cao kỹ năng học tập hợp tác và sự tham gia của HS [74]. Nghiên cứu giới thiệu sử dụng công nghệ kỹ thuật số và video để hỗ trợ HTVĐ mang tính quốc tế nhằm xem xét cách tạo điều kiện cho các nhóm giao lưu văn hóa, cung cấp cách nhìn đa chiều về cách giao tiếp giữa các nền văn hóa khác nhau [80]. Các ứng dụng HTVĐ trong chương trình giảng dạy ở các lĩnh vực khác nhau như nghệ thuật, khoa học, kinh doanh, giáo dục, điều dưỡng, dược phẩm,… được giới thiệu trên bản tin PBL Insight: to solve, to learn, together của trường Đại học Samford (Birmingham, Alabama, mỗi bài viết là những câu chuyện sáng kiến HTVĐ [62]. Các trang web cung cấp cho các quản trị viên, GV, HS và phụ huynh những thông tin chi tiết về thành phần, cách thực hiện, đánh giá và các nguồn lực HTVĐ, liên kết với các tổ chức, các trường đại học khác đang sử dụng HTVĐ trong chương trình đào tạo [90].
Các nghiên cứu, vận dụng HTVĐ đều thống nhất về một số đặc trưng: - HTVĐ là một mô hình dạy học (và chương trình giảng dạy) tiếp cận người học làm trung tâm, phù hợp với giảng dạy đại học, trao quyền cho người học tiến hành nghiên cứu, tích hợp lý thuyết và thực hành, áp dụng kiến thức và kỹ năng để phát triển các giải pháp khả thi cho một VĐ xác định. - Người học phải có trách nhiệm với việc học của mình: tự định hướng, tự điều chỉnh việc học. GV là người hỗ trợ, hướng dẫn học tập. - Các VĐ được sử dụng trong HTVĐ thường liên quan đến thực tế, khi đưa ra chưa có câu trả lời đúng duy nhất và có nhiều hơn một giải pháp.
- Học tập luôn được tích hợp từ nhiều lĩnh vực, từ nhiều nguồn khác nhau. - Hợp tác theo nhóm là điều cần thiết. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.