Lý giải hoạt động tương trợ của cư dân vùng Đông Bắc Nhật Bản trong thảm họa kép tháng 3/2011

Luận văn thạc sĩ phân tích hoạt động tương trợ của cư dân Đông Bắc Nhật Bản trong thảm họa kép tháng 3 năm 2011 từ góc độ xã hội học.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Xã Hội Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2015

122
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do lựa chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.3. Phương pháp nghiên cứu

0.4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.5. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: THẢM HỌA KÉP THÁNG 3/2011 VÀ CUỘC ĐIỀU TRA TẠI VÙNG ĐÔNG BẮC NHẬT BẢN

1.1. Thảm họa kép tháng 3/2011

1.2. Cuộc điều tra tại vùng Đông Bắc Nhật Bản

2. CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TRONG THẢM HỌA CỦA CƯ DÂN VÙNG ĐÔNG BẮC NHẬT BẢN

2.1. Tóm lược hoạt động cứu trợ của chính phủ và chính quyền địa phương

2.2. Hoạt động tương trợ có tổ chức trong cộng đồng khu vực

2.3. Hành động tương trợ tự phát giữa các cá nhân

3. CHƯƠNG 3: LÝ GIẢI HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TRONG THẢM HỌA CỦA CƯ DÂN VÙNG ĐÔNG BẮC NHẬT BẢN

3.1. Một số quan điểm nghiên cứu về hoạt động tương trợ

3.2. Lý giải hoạt động tương trợ trong thảm họa kép tháng 3/2011 của cư dân vùng Đông Bắc Nhật Bản

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN

Tóm tắt

I. Tổng quan về hoạt động tương trợ của cư dân Đông Bắc Nhật Bản trong thảm họa kép 2011

Thảm họa kép vào tháng 3 năm 2011 đã gây ra những thiệt hại nặng nề cho cư dân vùng Đông Bắc Nhật Bản. Động đất và sóng thần đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống của người dân nơi đây. Tuy nhiên, trong bối cảnh khủng hoảng, hoạt động tương trợ giữa các cư dân đã nổi bật lên như một biểu hiện của tinh thần đoàn kết và sự hỗ trợ lẫn nhau. Nghiên cứu này sẽ phân tích các hình thức tương trợ diễn ra trong cộng đồng, từ những hành động tự phát đến các hoạt động có tổ chức.

1.1. Đặc điểm của thảm họa kép tháng 3 2011 tại Nhật Bản

Thảm họa kép tháng 3/2011 bao gồm động đất và sóng thần, gây ra thiệt hại lớn về người và tài sản. Hơn 18.000 người đã thiệt mạng và hàng triệu người bị ảnh hưởng. Sự kiện này không chỉ là một thảm họa tự nhiên mà còn là một bài học về sự chuẩn bị và ứng phó của xã hội.

1.2. Tầm quan trọng của hoạt động tương trợ trong thảm họa

Hoạt động tương trợ không chỉ giúp đỡ những người bị ảnh hưởng mà còn củng cố mối quan hệ xã hội trong cộng đồng. Những hành động này thể hiện tinh thần đoàn kết và sự quan tâm lẫn nhau, góp phần vào quá trình phục hồi sau thảm họa.

II. Vấn đề và thách thức trong hoạt động tương trợ của cư dân Đông Bắc Nhật Bản

Mặc dù hoạt động tương trợ diễn ra mạnh mẽ, nhưng cũng tồn tại nhiều thách thức. Sự thiếu hụt nguồn lực, thông tin và sự phân tán của cộng đồng đã gây khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động cứu trợ. Nghiên cứu này sẽ chỉ ra những vấn đề chính mà cư dân phải đối mặt trong quá trình tương trợ.

2.1. Thiếu hụt nguồn lực trong hoạt động cứu trợ

Nhiều cư dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn lực cần thiết để hỗ trợ lẫn nhau. Sự thiếu hụt thực phẩm, nước sạch và chỗ ở đã làm giảm hiệu quả của các hoạt động tương trợ.

2.2. Thách thức trong việc tổ chức hoạt động cứu trợ

Việc tổ chức các hoạt động cứu trợ gặp khó khăn do sự phân tán của cộng đồng và thiếu thông tin. Nhiều cư dân không biết cách thức hoặc nơi để nhận sự hỗ trợ, dẫn đến tình trạng không đồng đều trong việc tiếp cận.

III. Phương pháp và giải pháp chính trong hoạt động tương trợ

Để cải thiện hoạt động tương trợ, nhiều phương pháp và giải pháp đã được áp dụng. Các tổ chức phi chính phủ và chính quyền địa phương đã phối hợp để tạo ra các chương trình hỗ trợ hiệu quả hơn. Nghiên cứu này sẽ phân tích các phương pháp chính được sử dụng.

3.1. Các chương trình hỗ trợ từ chính quyền địa phương

Chính quyền địa phương đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ nhằm giúp đỡ cư dân. Các chương trình này bao gồm cung cấp thực phẩm, nước sạch và chỗ ở tạm thời cho những người bị ảnh hưởng.

3.2. Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong cứu trợ

Các tổ chức phi chính phủ đã đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức các hoạt động cứu trợ. Họ cung cấp nguồn lực, thông tin và hỗ trợ kỹ thuật cho cư dân trong quá trình phục hồi.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về hoạt động tương trợ

Nghiên cứu về hoạt động tương trợ đã chỉ ra nhiều bài học quý giá cho các thảm họa trong tương lai. Những kết quả này không chỉ có giá trị cho Nhật Bản mà còn cho các quốc gia khác đang đối mặt với thiên tai. Nghiên cứu sẽ trình bày các ứng dụng thực tiễn từ hoạt động tương trợ.

4.1. Bài học từ hoạt động tương trợ trong thảm họa

Các hoạt động tương trợ đã cho thấy tầm quan trọng của sự chuẩn bị và tổ chức trong ứng phó với thảm họa. Những bài học này có thể được áp dụng cho các tình huống khẩn cấp trong tương lai.

4.2. Tác động xã hội của hoạt động tương trợ

Hoạt động tương trợ không chỉ giúp đỡ những người bị ảnh hưởng mà còn tạo ra sự gắn kết trong cộng đồng. Điều này góp phần vào việc xây dựng một xã hội mạnh mẽ hơn sau thảm họa.

V. Kết luận và tương lai của hoạt động tương trợ tại Đông Bắc Nhật Bản

Hoạt động tương trợ của cư dân Đông Bắc Nhật Bản trong thảm họa kép 2011 đã thể hiện sức mạnh của tinh thần đoàn kết. Tuy nhiên, cần có những cải tiến để nâng cao hiệu quả của các hoạt động này trong tương lai. Nghiên cứu sẽ đưa ra những khuyến nghị cho các hoạt động tương trợ tiếp theo.

5.1. Khuyến nghị cho các hoạt động tương trợ trong tương lai

Cần xây dựng các kế hoạch cụ thể cho hoạt động tương trợ, bao gồm việc đào tạo và nâng cao nhận thức cho cư dân về cách thức hỗ trợ lẫn nhau trong thảm họa.

5.2. Tương lai của cộng đồng sau thảm họa

Cộng đồng Đông Bắc Nhật Bản cần tiếp tục phát huy tinh thần tương trợ để phục hồi và phát triển bền vững. Sự gắn kết và hỗ trợ lẫn nhau sẽ là chìa khóa cho sự phục hồi lâu dài.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: THẢM HỌA KÉP THÁNG 3/2011 VÀ CUỘC ĐIỀU TRA TẠI VÙNG ĐÔNG BẮC NHẬT BẢN Nhật Bản là một đảo quốc Thái Bình Dương, nằm trên khu vực bất ổn định của vỏ trái đất nên hàng năm, các thiên tai như bão, động đất, núi lửa, sóng thần… thường xuyên xảy ra. Trong thời kỳ hiện đại, trước thảm họa kép tháng 3/2011, Nhật Bản đã hứng chịu những thiệt hại nặng nề bởi hai trận động đất lịch sử là động đất Kanto năm 1923 và động đất Hanshin – Awaji năm 1995 (động đất Kobe). Chính vì thường xuyên bị ảnh hưởng bởi các thiên tai nên người dân Nhật Bản đã có nếp sinh hoạt thích ứng thường trực với thảm họa. Nhật Bản cũng sớm có các cơ chế phòng vệ và phản ứng tích cực với thảm họa, điển hình là Luật Cơ bản về đối phó thảm họa (1961).

Tuy nhiên, thảm họa kép tháng 3/2011 được xem là thảm họa khủng khiếp “chưa từng có” trong lịch sử Nhật Bản kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai xét về quy mô và mức độ thiệt hại. Quy mô và mức độ thiệt hại lớn “chưa từng có” đã khiến cho những phản ứng của người dân và chính phủ Nhật Bản bị đặt vào tình huống “bất thường”, điều có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề “tương trợ” được xem xét trong nghiên cứu này. Tức là, nếu chỉ là những trận động đất hay mưa bão bình thường khác thì hàng năm ở Nhật Bản có rất nhiều thiên tai như vậy, và Nhật Bản đã có sẵn cơ chế để mọi người dân phản ứng, những hành động tương trợ như trong thảm họa kép này chưa chắc đã được diễn ra. Đứng ở vị trí “người ngoài cuộc”, các con số về quy mô, mức độ thương vong, thiệt hại được chúng ta chú ý, hơn là cảm nhận thực sự của những người trong cuộc.

Thực tế điều tra cho nhận thấy những khu vực khác nhau của Nhật Bản chịu những ảnh hưởng hết sức khác nhau. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến mức độ tính chất căng thẳng, nguy kịch trong cảm nhận chủ quan của các nạn nhân thảm họa. Không phải tất cả người dân Nhật Bản đều cho mình là nạn nhân của thảm họa này. Trong phần dưới đây, bằng việc khái quát các đặc trưng của thảm họa kép tháng 3/2011 thông qua các tư liệu và điều tra quan sát thực tế của tác giả, ta sẽ cùng nhìn nhận lại về mức độ tính chất căng thẳng, nguy kịch “khác nhau” của sự kiện tùy theo cảm nhận chủ quan của các đối tượng.

15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thảm họa kép tháng 3/2011 1. Cơ chế phát sinh thảm họa 1) Động đất ngoài khơi Thái Bình Dương vùng Đông Bắc Nhật Bản Ngày 11/3/2011, lúc 14 giờ 46 phút, một trận động đất với cường độ 9.0 độ M8 phát sinh với tâm chấn sâu 24km tại khu vực ngoài khơi Sanriku (38.52 độ Kinh Đông), cách bán đảo Oshika (Đông Bắc tỉnh Miyagi) 130km về phía Đông Đông Nam. Theo Cục Khí tượng Nhật Bản, khu vực tâm chấn vào khoảng 450 ×200km trải dài trên vùng biển từ tỉnh Iwate đến Ibaraki.

Đây là trận động đất lớn thứ 4 trên thế giới trong các trận động đất tính từ năm 1900 trở lại đây. Khu vực tâm chấn và phân bố cấp độ động đất của Động đất ngoài khơi Thái Bình Dương khu vực Đông Bắc Nguồn: Cục Khí tượng Nhật Bản (2015) 8 Độ M: Thang độ lớn mô-men (Momen Magnitude Scale). Đây là thang đo độ lớn năng lượng một cơn động đất sinh ra, được đưa ra từ năm 1979 bởi Tom Hanks và Kanamori Hiroo, thường được các phương tiện truyền thông đưa tin là “độ Richter” (được đưa ra bởi Charles Richter vào năm 1935), mặc dù thông số đưa ra được hiểu là độ mô-men. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo đánh giá dài hạn của Ủy ban điều tra động đất Nhật Bản, có 6 khu vực ngoài khơi có nguy cơ cao xảy ra động đất, bao gồm: khu vực trung bộ ngoài khơi Sanriku, khu vực ngoài khơi tỉnh Miyagi, khu vực biển phía Nam ngoài khơi Sanriku, khu vực ngoài khơi tỉnh Fukushima, khu vực ngoài khơi tỉnh Ibaraki, và khu vực từ phía bắc vùng biển Sanriku đến vùng ngoài khơi bán đảo Boso (tỉnh Chiba).

Mặc dù vậy, trong thảm họa tháng 3/2011, sự kiện cả 6 khu vực này có động đất phát sinh liên đới nằm ngoài dự báo của ủy ban này [17, tr. Theo Từ điển Thảm họa Lịch sử Nhật Bản, động đất tại khu vực ngoài khơi tỉnh Miyagi với cường độ 7.5 ~ 8 độ M đã từng diễn ra với chu kỳ 40 năm. Lần gần đây nhất là trận động đất năm 1978, tỉ lệ xác suất diễn ra sau đó trong vòng 30 năm (tức là khoảng năm 2010) là 99%. Trong bối cảnh đó, động đất ngoài khơi Thái Bình Dương vùng Đông Bắc với cường độ 9.0 độ M và phạm vi rộng lớn như vậy là một điều chưa từng có trong lịch sử quan trắc của Nhật Bản.

Khu vực vùng biển ngoài khơi vùng Đông Bắc cũng được cho là ít có khả năng xuất hiện động đất cực mạnh, và sau sự kiện năm 2011, điều này cũng đang được đánh giá lại [8, tr. Ngay sau khi động đất ngoài khơi phát sinh, những rung chấn mạnh đã ngay lập tức cảm nhận được ở khu vực bán đảo Oshika (tỉnh Miyagi) và lan rộng ra các tỉnh từ Iwate đến Ibaraki trong 60 giây sau đó. Sau khi cơn động đất xảy ra 110 giây, Miyagi đón nhận đợt rung chấn mạnh thứ hai, sau 160 giây, khu vực lân cận ranh giới giữa tỉnh Fukushima và Ibaraki đón tiếp đợt rung chấn mạnh thứ ba. Theo đó, toàn bộ các khu vực các tỉnh từ vùng Đông Bắc đến Kanto chịu một vài đợt rung chấn mạnh, các đợt rung chấn diễn ra kéo dài trong khoảng vài phút [8, tr.

Cơn động đất gây ra rung chấn mạnh nhất cấp độ 7 trên đất liền ở khu vực tỉnh Miyagi, cấp độ 6 ở các tỉnh từ Iwate đến Chiba. Điều đáng lưu ý là rung chấn mạnh kéo dài gây ra hiện tượng sạt lở đất và hóa lỏng đất9, là nguyên nhân chính gây ra 9 Hóa lỏng đất là hiện tượng xảy ra khi đất bão hòa với nước ngầm, do sự gia tăng áp lực nước trong các lỗ rỗng của đất. Nền đất là một tập hợp hàng tỷ các hạt đất riêng rẽ, tiếp xúc với nhau. Trọng lượng của các hạt nằm trên tạo ra lực liên kết giữa chúng, nhờ đó, nền đất có được kết cấu vững chắc.

Thông thường, áp lực nước ngầm trong đất tương đối thấp. Khi động đất xảy ra, chấn động mạnh trong thời gian cực ngắn làm áp lực nước tăng vọt. Nước không đủ thời gian thoát ra, “mắc kẹt” trong lòng đất, lấp đầy khoảng không gian giữa các hạt đất, ngăn cản sự tiếp xúc của chúng với nhau. Do ma sát giữa các hạt đất giảm đột ngột nên nền đất mất đi sự liên kết và hoạt động như một chất lỏng nhớt.

Khi đó, nước trào ngược lên trên cùng với bùn và cát mịn. Cát 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những thiệt hại về nhà cửa mà không phải trực tiếp do các rung chấn mạnh gây ra. Các ngôi nhà bị đổ do rung chấn mạnh tương đối ít và cũng chỉ giới hạn ở một số khu vực [8, tr. Các cơn rung chấn từ cấp độ 1 có thể cảm nhận trên hầu hết toàn bộ lãnh thổ Nhật Bản10, nhưng các rung chấn mạnh chủ yếu là từ cấp độ 5 yếu trở lên trong thang cấp độ động đất của Nhật Bản được Nội các Nhật Bản công bố như Bảng 1-1.

Phân bố cấp độ động đất từ 5 yếu11 trở lên do động đất ngoài khơi Thái Bình Dương vùng Đông Bắc Nhật Bản ngày 11/3/2011 Cấp độ Khu vực 7 Bắc Miyagi Bắc và trung bộ Miyagi, Đông và trung bộ Fukushima, Bắc và Nam 6 mạnh Ibaraki, Bắc và Nam Tochigi Nam duyên hải, Bắc và Nam trong đất liền của Iwate, Tây Fukushima, 6 yếu Nam Gunma, Bắc Saitama, Tây Nam Chiba Đông Nam và Bắc Aomori, Bắc duyên hải Iwate, Nam duyên hải và Nam trong đất liền của Akita, Đông Nam và Nam Yamagata, Bắc 5 mạnh Gunma, Bắc Saitama, Đông Bắc và Nam Chiba, 23 quận trong Tokyo, Niigata, Đông và Tây Kanagawa, Trung bộ và Tây Yamanashi, Đông và Đông Nam Yamanashi Nguồn: Sách trắng Phòng chống thiên tai của Nhật Bản (2011), tr.3 Cùng với hiện tượng rung lắc mạnh do rung chấn chu kỳ ngắn ở khu vực Đông Bắc, các khu vực Tokyo – Nagoya – Osaka cũng chịu ảnh hưởng của các rung chấn chu kỳ dài. Hiện tượng rung lắc ở các khu vực này khiến các tòa nhà siêu cao tầng cùng bị chao đảo rất mạnh trong khoảng thời gian dài hơn mười phút. Các tòa nhà siêu cao tầng từ 30 đến 50 tầng ở Shinjuku (Tokyo) được ghi nhận mức độ rung lắc thô và đá nặng hơn nên lún xuống, khiến bề mặt đất dịch chuyển, có thể tạo thành dòng xoáy với sức mạnh tương tự như bão lốc hoặc hình thành những đụn cát (trông như các hố thiên thạch của núi lửa). Khi đất bị hoá lỏng sẽ mất hết ma sát gây giảm đáng kể sức chịu tải của cọc hoặc biến dạng lớn cho công trình.

10 Theo quan sát bản đồ phân bố cấp độ động đất trong Sách trắng Phòng chống thiên tai của Nội các Nhật Bản, năm 2011. 11 Cấp độ động đất: chỉ số biểu thị thang bậc độ lớn của rung chấn gây ra do động đất theo thang cấp độ động đất của Cục Khí tượng Nhật Bản, bao gồm các bậc từ 1 đến 7, riêng cấp độ 5 và 6 được phân chia thành 2 bậc là 5 mạnh, 5 yếu và 6 mạnh, 6 yếu. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lớn nhất khoảng 30cm. Các rung lắc con người cảm nhận được diễn ra liên tục kéo dài trong khoảng thời gian hơn mười phút.

Ở xa tâm chấn hơn, tòa nhà siêu cao tầng 55 tầng ở bờ vịnh Osaka cũng rung lắc đến 137cm [8, tr. Do ảnh hưởng của động đất ngày 11/3/2011, trong vài tháng sau đó, một loạt các dư chấn đã xảy ra bao gồm khoảng hơn 500 trận động đất cường độ từ 5 độ M trở lên ở tâm chấn. Theo thống kê của Cục Khí tượng Nhật Bản, cho đến ngày 31/5/2011, có 2 trận động đất cấp độ 6 mạnh, 2 trận cấp độ 6 yếu, 6 trận cấp độ 5 mạnh, 23 trận cấp độ 5 yếu, 135 trận cấp độ 4 đã xảy ra [17, tr. Tại các tỉnh Akita, Nagano, Shizuoka, động đất phái sinh cường độ 6 độ M cũng đã xảy ra khiến hoạt động địa chất xung quanh 13 ngọn núi lửa tăng cao tạm thời, hoạt động địa chất từ Hokkaido đến miền Trung Nhật Bản cũng tăng cao đáng kể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ