phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luâṇ văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng của NHCSXH đối với việc xóa đói giảm nghèo. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tín dụng của NHCSXH đối với việc xóa đói giảm nghèo ở Ninh Bình. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng của NHCSXH đối với công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VỚI VIÊC̣ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO ̉ ̀ ̀ ́ ̀ 1.
TÔNG QUAN VÊ NGHEO ĐOI VA SỰ CẦN THIẾT PHẢI HỖ TRỢ VỐN CHO NGƢỜI NGHÈO 1. Tổng quan về nghèo đói 1. Khái niệm về đói nghèo Có khá nhiều khái niệm khác nhau về nghèo đói, tùy thuộc vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dƣơng do ESCAP tổ chức vào tháng 09/1993 tại Thái Lan đã thống nhất cho rằng “Nghèo là thực trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con ngƣời, mà những nhu cầu này đƣợc xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phƣơng”.
Đây là một khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới sử dụng, trong đó có Việt Nam. Nghèo không chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận dịch vụ, nhƣ giáo dục, văn hóa, thuốc men, không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu những điều kiện tốt hơn cho cuộc sống mà còn thiếu thể chế kinh tế thị trƣờng hiệu quả, trong đó có các thị trƣờng đất đai, vốn và lao động cũng nhƣ các thể chế nhà nƣớc đƣợc cải thiện có trách nhiệm giải trình và vận hành trong khuôn khổ pháp lý minh bạch cũng nhƣ một môi trƣờng kinh doanh thuận lợi. Mức nghèo còn là tình trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng. Các tiêu chí về đói nghèo Để xác định mức độ đói, nghèo ngƣời ta thƣờng dựa trên mức thu nhập hoặc mức chi tiêu.
Một ngƣời đƣợc coi là đói, nghèo nếu mức độ chi tiêu hoặc 8 thu nhập dƣới mức tối thiểu cần thiết để đáp ứng cho các nhu cầu căn bản. Mức tối thiếu này đƣợc gọi là “ngƣỡng đói nghèo”. Các yếu tố đáp ứng nhu cầu căn bản thay đổi theo thời gian và xã hội, do đó, “ngƣỡng đói nghèo” khác nhau theo thời gian, địa điểm và mỗi quốc gia sử dụng các ngƣỡng thích hợp với mức độ phát triển, chuẩn mực và giá trị xã hội của mình. Chuẩn nghèo Việt Nam là một tiêu chuẩn để đo lƣờng mức độ nghèo của các hộ dân tại Việt Nam.
Chuẩn này khác với chuẩn nghèo bình quân trên thế giới. Đại diện của Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội cho biết, số liệu thống kê trên dựa theo tiêu chuẩn mới, cụ thể: Thu nhập hàng tháng của hộ gia đình nghèo là 400.000 đồng trở xuống ở nông thôn và 500.000 đồng trở xuống ở thành thị. Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trong Quyết định của Thủ tƣớng chính phủ Việt Nam số 170/2005/QĐ-TTg ký ngày 08 Tháng 07 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010, cả nƣớc Việt Nam hiện có khoảng 2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số. Và đến năm 2011, theo chuẩn nghèo mới, cả nƣớc Việt Nam hiện có khoảng 3 triệu hộ nghèo.
Theo chuẩn trên, nhiều hộ nghèo mặc dù đã thoát nghèo nhƣng vẫn không đủ sống, đời sống khó khăn nên rất nhiều ngƣời muốn còn đƣợc thuộc diện nghèo mãi để tiếp tục đƣợc nhận các khoản hỗ trợ nhƣ vay vốn ƣu đãi. Dù theo cách đánh giá nào đi nữa thì bộ phận dân nghèo ở Việt Nam hiện nay còn khá lớn. Vì có nhiều nguyên nhân khác nhau nên chúng ta cần phải đứng trên nguyên nhân của từng hộ gia đình để đƣa ra biện pháp hỗ trợ hiệu quả. Nguyên nhân nghèo đói Nghèo đói là hậu quả đan xen của nhiều nhóm các yếu tố, nhƣng chung quy lại thì có thể chia nguyên nhân đói nghèo của nƣớc ta theo các nhóm sau: 9 a) Nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo - Thiếu vốn sản xuất: Các tài liệu điều tra cho thấy đây là nguyên nhân chủ yếu nhất.
Nông dân thiếu vốn thƣờng rơi vào vòng luẩn quẩn, sản xuất kém, làm không đủ ăn, phải đi thuê, đi vay để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày. Có thể nói: Thiếu vốn sản xuất là một lực cản lớn nhất hạn chế sự phát triển của sản xuất và nâng cao đời sống của các hộ gia đình nghèo. Kết quả điều tra xã hội học về nguyên nhân nghèo đói của các hộ nông dân ở nƣớc ta năm 2001 cho thấy: Thiếu vốn chiếm khoảng 70% - 90% tổng số hộ đƣợc điều tra. - Thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn: Phƣơng pháp canh tác cổ truyền đã ăn sâu vào tiềm thức, sản xuất tự cung tự cấp là chính, thƣờng sống ở những nơi hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, thiếu phƣơng tiện, con cái thất học,… Những khó khăn đó làm cho hộ nghèo không thể nâng cao trình độ dân trí, không có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác, thiếu kinh nghiệm và trình độ sản xuất kinh doanh đẫn đến năng xuất thấp, không hiệu quả.
- Thiếu sức khỏe: Bệnh tật và sức khoẻ yếu kém cũng là yếu tố đẩy con ngƣời vào tình trạng nghèo đói trầm trọng. - Thiếu tài nguyên: Đất canh tác ít, tình trạng không có đất canh tác đang có xu hƣớng tăng lên. - Thiếu việc làm, thiếu sự chủ động trong việc tìm kiếm việc làm. Mặt khác do hậu quả của chiến tranh dẫn đến nhiều ngƣời dân bị mất sức lao động, nhiều phụ nữ bị góa phụ dẫn tới thiếu lao động hoặc thiếu lao động trẻ, khỏe có khả năng đảm nhiệm những công việc nặng nhọc.
10 b) Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên xã hội. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tác động sâu sắc đến sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nghèo. Ở những vùng khí hậu khắc nghiệt : thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, đất đai cằn cỗi, diện tích canh tác ít, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng thiếu hoặc không có là những vùng có nhiều hộ nghèo đói nhất. Sự cần thiết phải hỗ trợ vốn đểxóa đói giảm nghèo Đói nghèo là hiện tƣợng phổ biến của nền kinh tế thị trƣờng và tồn tại khách quan đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển.
Đặc biệt đối với nƣớc ta, quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng t ừ xuất phát điểm nghèo nàn lạc hậu dẫn đến tình trạng đói nghèo không thể tránh khỏi. Nhƣ vậy, hỗ trợ ngƣời nghèo trƣớc hết là mục tiêu của xã hội. Xóa đói giảm nghèo sẽ hạn chế đƣợc các tệ nạn xã hội, tạo sự ổn định công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Ngƣời nghèo đƣợc hỗ trợ để tự vƣơn lên, tạo thu nhập, từ đó làm tăng sức mua, khuyến khích sản xuất phát triển.
Chính vì vậy, quan điểm cơ bản của chiến lƣợc phát triển xã hội mà Đảng ta đã đề ra là phát triển kinh tế, ổn định và công bằng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng văn minh. XĐGN là một bộ phận trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các quốc gia trên thế giới, đó cũng là một trong những mục tiêu hàng đầu trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Xoá đói giảm nghèo đối với sự phát triển kinh tế Nghèo đói đi liền với lạc hậu và là trở ngại lớn đối với sự phát triển. Nói cách khác, XĐGN sẽ tạo tiền đề cho sự phát triển, ngƣợc lại tăng trƣởng kinh tế gắn với công bằng xã hội là nhân tố đảm bảo thành công trong công tác XĐGN.
11 Xóa đói giảm nghèo đối với vấn đề chính trị - xã hội. Nghèo đói là nguyên nhân quan trọng làm phát sinh các tệ nạn xã hội nhƣ trộm cắp, cƣớp giật, ma tuý, mại dâm. đi đôi với nó là sự tăng dân số, suy giảm thể lực, trí lực. Nếu nghèo đói không đƣợc chú ý giải quyết, tỷ lệ và cấp độ của nghèo đói vƣợt quá giới hạn an toàn sẽ dẫn đến hậu quả về mặt chính trị, ở mức cao hơn là khủng hoảng chính trị, là môi trƣờng thuận lợi cho âm mƣu “diễn biến hoà bình” và “chiến tranh biên giới mềm” của các thế lực thù địch.
Tóm lại, hỗ trợ ngƣời nghèo là một tất yếu khách quan. Xuất phát từ lý do của sự đói nghèo có thể khẳng định rằng: mặc dù kinh tế đất nƣớc có thể tăng trƣởng nhƣng nếu không có chính sách và chƣơng trình riêng về XĐGN thì các hộ gia đình nghèo không thể thoát ra khỏi đói nghèo. Chính vì vậy, Chính phủ đã đề ra những chính sách đặc biệt trợ giúp ngƣời nghèo, nhằm thu hẹp dần khoảng cách giữa giàu và nghèo. Sau 10 năm thực hiện “Chiến lƣợc toàn diện về tăng trƣởng và xóa đói, giảm nghèo” (2002-2013) và 5 năm thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về “Chƣơng trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo nhất trong cả nƣớc (2008-2013), Việt Nam đã đạt đƣợc những kết quả đáng mừng trong công tác xóa đói giảm nghèo.
Theo Báo cáo Đánh giá nghèo Việt Nam năm 2012 mới công bố của Ngân hàng thế giới World Bank, hơn 30 triệu ngƣời Việt Nam đã thoát khỏi đói nghèo trong hai thập kỷ qua. Nghèo đói ở Việt Nam đã giảm nhanh chóng từ 60% hồi đầu những năm 1990 xuống 20,7% trong năm 2010. Việt Nam đã đạt đƣợc tỷ lệ nhập học tiểu học và trung học cơ sở cao, lần lƣợt hơn 90% và 70%. Theo đánh giá gần đây nhất của Tổ chức Nông lƣơng Liên Hợp Quốc FAO, Việt Nam là một trong những nƣớc đạt đƣợc thành tích nổi bật trong 12 việc giảm số ngƣời bị đói từ 46,9% (32,16 triệu ngƣời) giai đoạn 1990 – 1992 xuống còn 9% (8,01 triệu ngƣời) trong giai đoạn 2010 – 2012, và đã đạt đƣợc Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 1 (MDG1) – hƣớng tới mục tiêu giảm một nửa số ngƣời bị đói vào năm 2015.
Tuy đạt đƣợc những thành tích đáng mừng nhƣng công cuộc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam lại đang đối mặt với những thách thức mới.