CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG 1. THANH TRA CHUYÊN NGÀNH NGÂN HÀNG 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về thanh tra, giám sát - Thanh tra (inspect) xuất phát từ gốc La-tinh (in-spectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong” chỉ một sự xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng nhất định: “là sự kiểm soát đối với đối tượng bị thanh tra” trên cơ sở thẩm quyền (quyền hạn và nghĩa vụ) được giao nhằm đạt được mục đích nhất định.
Theo Luật Thanh tra (Luật số: 56/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010) (sau đây gọi là Luật thanh tra năm 2010) quy định: “hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Trên cơ sở đó có thể khái quát khái niệm thanh tra như sau: Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động tự kiểm tra, xem xét của các cơ quan hành chính nhà nước, được thực hiện bởi chủ thể quản lý có thẩm quyền, nhằm đánh giá ưu khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. - Giám sát: Theo từ điển tiếng Việt nghĩa là “Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không. Giám sát việc thi hành hiệp 2 nghị.
Hội đồng nhân dân giám sát mọi hoạt động của uỷ ban nhân dân cấp mình.” Giám sát là hoạt động của chủ thể ngoài hệ thống đối với đối tượng thuộc hệ thống khác (trong những trường hợp cụ thể, có thể là không trực thuộc, tức là giữa cơ quan giám sát và cơ quan chịu giám sát đó không nằm trong một hệ thống trực thuộc nhau theo chiều dọc). Do vậy, trong bộ máy nhà nước ta, giám sát thường thể hiện là chức năng của các cơ quan quyền lực nhà nước, Toà án nhân dân và các tổ chức xã hội và công dân nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật, kỷ luật trong quản lý nhà nước. Như vậy, thanh tra có những điểm giống với hoạt động giám sát ở chỗ: đều là những phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý nhà nước, đều có khách thể chung là hoạt động quản lý. Nhưng chúng có những điểm khác nhau ở tính chất quan hệ giữa chủ thể thực hiện với những đối tượng bị giám sát, thanh tra và do đó, chúng khác nhau ở cách thức và biện pháp tác động.
Khái niệm về thanh tra chuyên ngành ngân hàng Luật Thanh tra năm 2010 nêu: “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó”. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực ngân hàng. Thanh tra chuyên ngành ngân hàng phải tuân theo pháp luật. Nguyên tắc thanh tra chuyên ngành ngân hàng là sự kết hợp thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng với thanh tra rủi ro trong hoạt động của đối tượng thanh tra.
Thanh tra chuyên ngành ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc thanh tra toàn bộ hoạt động của các Tổ chức tín dụng (TCTD) theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước (Luật NHNN) và các quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp có sự khác nhau giữa quy định về thanh tra chuyên ngành ngân hàng của Luật NHNN với quy định của luật khác thì thực hiện theo quy định của Luật NHNN. Thống đốc NHNN quy định trình tự, thủ tục thanh 3 tra chuyên ngành ngân hàng. Có thể nói, thanh tra chuyên ngành ngân hàng chính là công cụ hữu hiệu giúp NHNN hoàn thành tốt chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Như vậy, thanh tra chuyên ngành ngân hàng là hoạt động thanh tra của NHNN đối với các TCTD trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; kiểm tra hoạt động của các TCTD để đưa ra kết luận đánh giá tính trung thực và đầy đủ của các thông tin kế toán, đánh giá việc tuân thủ các quy định hiện hành; đánh giá mức độ rủi ro, năng lực quản trị rủi ro và tình hình tài chính của TCTD nhằm đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng; phòng ngừa, ngăn chặn, hạn chế rủi ro và xử lý những vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; tăng cường pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD.
Đối tượng của thanh tra, giám sát ngân hàng Theo Luật Ngân hàng Nhà nước (Luật số: 46/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 06 năm 2010) thì đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN được quy định cụ thể như sau: 1. Đối tượng thanh tra ngân hàng - TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng. Trong trường hợp cần thiết, NHNN yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra hoặc phối hợp thanh tra công ty con, công ty liên kết của TCTD; - Tổ chức có hoạt động ngoại hối, hoạt động kinh doanh vàng; tổ chức hoạt động thông tin tín dụng; tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không phải là ngân hàng; - Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ và 4 ngân hàng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của NHNN. Đối tượng giám sát ngân hàng NHNN thực hiện việc giám sát ngân hàng đối với mọi hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nhà nước.
Trong trường hợp cần thiết, NHNN yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát hoặc phối hợp giám sát công ty con, công ty liên kết của TCTD. Sự cần thiết của Thanh tra, giám sát ngân hàng 1. Tăng cường quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Việc tiến hành thanh tra, giám sát về tổ chức, hoạt động của các đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng thường xuyên sẽ giúp NHNN tăng cường quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Đồng thời, cũng giúp các đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng hoạt động an toàn và hiệu quả; góp phần quan trọng tạo môi trường thực thi chính sách tiền tệ quốc gia hữu hiệu.
Dựa trên kết quả thanh tra, giám sát ngân hàng và các dấu hiệu thị trường, NHNN sử dụng các công cụ của mình để điều hành thị trường tiền tệ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở… để kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị tiền tệ và cân bằng cán cân thanh toán. Trên cơ sở đó, NHNN khẳng định và nâng cao vai trò và vị trí của mình, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD Tín dụng là một hoạt động nghiệp vụ quan trọng, chủ chốt trong hoạt động ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ có tính rủi ro cao nhất. Nếu hoạt động tín dụng của một TCTD không tốt, khả năng thu hồi các khoản nợ vay kém có thể đẩy TCTD đó rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả và có nguy cơ phá sản.
Điều này, 5 sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của người gửi tiền và khách hàng của TCTD. Do đó, Thanh tra, giám sát ngân hàng phải tiến hành kiểm tra, phân tích, đánh giá chất lượng và rủi ro các khoản tín dụng của các TCTD, phòng ngừa có hiệu quả và đảm bảo an toàn cho những khoản cho vay đầu tư. Thông qua quá trình kiểm tra, giám sát nêu trên, Thanh tra, giám sát ngân hàng sẽ tiến hành xử lý nếu phát hiện TCTD có sai phạm. Việc phát hiện và xử lý các vi phạm, kiến nghị khắc phục các tồn tại, sai phạm trong hoạt động của TCTD sẽ bảo đảm hoạt động của các TCTD được an toàn và hiệu quả, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD.
Duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các TCTD Trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và ngân hàng, lòng tin đóng một vai trò cực kỳ quan trọng quyết định sự tồn tại của hệ thống TCTD. Việc duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống TCTD luôn là một việc làm cần thiết nhằm thu hút vốn phục vụ cho hoạt động kinh tế, tài chính của đất nước. Năng lực thu hút vốn của các TCTD đi đôi với việc đảm bảo khả năng chi trả cho người gửi tiền. Nếu một TCTD mất khả năng chi trả thì người gửi tiền sẽ mất lòng tin vào TCTD đó dẫn đến tình trạng rút tiền ồ ạt, tạo nên một phản ứng dây chuyền, gây ảnh hưởng xấu đến các TCTD khác vì công chúng không còn tin tưởng để gửi tiền vào hệ thống các TCTD.
Nếu việc rút vốn đồng loạt này liên tục kéo dài mà không có biện pháp ngăn chặn kịp thời sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán đồng bộ, không thu hút được vốn để hoạt động kinh doanh, dẫn đến nguy cơ đối mặt với tình trạng phá sản, từ đó sẽ ảnh hưởng đến hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia.