CHƯƠNG I MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU PHÔI THÉP ĐỐI VỚI NGÀNH THÉP VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP 1. Nhập khẩu và vai trò của nhập khẩu trong điều kiện hội nhập 1. Sự cần thiết của nhập khẩu trong điều kiện hội nhập Ngày nay, cùng với sự phát triển và mở rộng không ngừng của quá trình quốc tế hoá và toàn cầu hoá, các quốc gia trên thế giới không còn là các quốc gia đơn lẻ nữa mà trở thành một trong những mắc xích quan trọng trong mạng lưới kinh tế, chính trị toàn cầu.
Khoa học công nghệ và kỹ thuật không ngừng tiến bộ và phát triển nhưng nó lại không tập trung hoàn toàn ở bất cứ quốc gia nào. Mỗi một quốc gia nhiều hay ít đều nắm giữ riêng cho mình một công nghệ, một bí quyết sản xuất riêng hay một thế mạnh đặc thù. Do đó, để có thể cùng nhau chia sẻ sự tiến bộ của khoa học công nghệ, các quốc gia phải tham gia vào thương mại quốc tế mà hình thức cụ thể là thông qua hoạt động xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, dựa vào vị trí địa lý cũng như tài nguyên thiên nhiên của mình, mỗi quốc gia xác định được thế mạnh riêng.
Những nước có giàu tài nguyên thì đẩy mạnh khai thác nó (các nước dầu mỏ OPEC), những nước kém tài nguyên thì lại lựa chọn cho mình con đường sử dụng nguồn nhân lực của mình để phát triển (Nhật Bản). Chính từ sự khác nhau đó, các nước hình thành nên những lợi thế so sánh riêng, dựa vào đó mà các nước tiến hành trao đổi, buôn bán với nhau. Và sự trao đổi này diễn ra thông qua hoạt động xuất nhập khẩu. Như vậy có thể nói, cùng với sự hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, hoạt động buôn bán ngoại thương ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Là một bộ phận không thể thiếu của thương mại quốc tế, nhập khẩu được hiểu là sự mua bán hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc tạm nhập tái xuất nhằm thu lợi nhuận. Nó thể hiện sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nền kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thể giới. Thông qua hoạt động nhập khẩu, các quốc gia bổ sung cho mình những hàng hóa trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đủ cung cấp cho nhu cầu nội địa với chi phí thấp hơn hay cung cấp nguyên liệu cho sản xuất trong nước. Như vậy trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập, hoạt động nhập khẩu nói riêng và thương mại quốc tế nói chung chính là cầu nối nền kinh tế trong nước với thế giới, biến nền kinh tế thế giới thành nơi cung cấp các “yếu tố đầu vào” và tiêu thụ các “sản phẩm đầu ra” trong hệ thống kinh tế toàn cầu.
Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền kinh tế Việt Nam Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và từng bước hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay, vai trò của nhập khẩu được thể hiện ở những khía cạnh sau: 1. Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá đất nước. Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi nền kinh tế một cách cơ bản từ lao động thủ công sang lao động bằng cơ khí ngày càng hiện đại hơn.
Với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp lạc hậu, để tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, Việt Nam phải thay đổi căn bản nền sản xuất trong nước theo hướng hiện đại hoá. Muốn làm vậy, chúng ta phải tiến hành đổi mới máy móc, công nghệ, thiết bị của các ngành kinh tế mũi nhọn như công nghiệp điện và điện tử, công nghiệp đóng tàu, công nghiệp gang thép, công nghiệp chế biến. Như vậy, nhập khẩu chính là một kênh cung cấp công nghệ cho quá trình công nghiệp hoá đất nước. Những năm qua, cùng với sự thay đổi trong cơ cấu nhập khẩu thì cơ cấu GDP cũng thay đổi theo.
Cụ thể cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam có sự biến động giữa hai nhóm hàng tư liệu sản xuất và vật liệu tiêu dùng. Nhập khẩu hàng tiêu dùng có xu 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hướng giảm trong 10 năm trở lại đây do sản xuất trong nước đã phần nào đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng nội địa. Nhập khẩu máy móc, công nghệ, thiết bị, nguyên vật liệu luôn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu hàng nhập khẩu. Điều này góp phần thúc đẩy nền công nghiệp trong nước phát triển, làm tăng tỷ lệ đóng góp của ngành trong cơ cấu GDP cả nước.
Bảng 1: GDP phân theo khu vực kinh tế Đơn vị: % Năm Tổng số Nông - lâm - ngư nghiệp Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ 1990 100,00 38,74 22,67 38,59 1995 100,00 27,18 28,76 44,06 2000 100,00 24,53 36,73 38,74 2005 100,00 20,97 41,02 38,01 2006 100,00 20,36 41,56 38,08 2007 100,00 17,8 41,76 40,43 (Nguồn: Tổng cục thống kê và http://www.htm) Như vậy, nhập khẩu cũng đã có tác động thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá đất nước. Nhập khẩu giúp bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế đảm bảo phát triển kinh tế cân đối và ổn định Một nền kinh tế muốn phát triển tốt cần đảm bảo sự cân đối theo những tỷ lệ nhất định như cân đối giữa tiết kiệm và tiêu dùng, giữa hàng hoá và lượng tiền trong lưu thông, giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong cán cân thanh toán quốc tế. Nhập khẩu có tác động rất tích cựu thông qua việc cung cấp các điều kiện đầu vào làm cho sản xuất phát triển, mặt khác tạo điều kiện để các quốc gia chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tận 1. Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhập khẩu có vai trò làm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu.
Thông qua nhập khẩu, nhân dân có nhiều sự lựa chọn sản phẩm hơn cho cuộc sống, góp phần giảm bớt khoảng cách về mức sống so với các nước khác. Nhập khẩu đồng thời tạo ra tính cạnh tranh cho sản xuất trong nước. Trên cơ sở đó buộc các doanh nghiệp trong nước không ngừng nâng cao chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã, chủng loại cho sản phẩm của mình. Rõ ràng, trên phương diện này, nhập khẩu đã đem lại một tác động kép tích cực cho nền kinh tế.
Nhập khẩu có vai trò thúc đẩy xuất khẩu Sự tác động này thể hiện ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu, điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang và kém phát triển như Việt Nam, vì khả năng sản xuất của các quốc gia này còn hạn chế. Điều này thể hiện rõ quan niệm hiện nay “lấy nhập khẩu để nuôi xuất khẩu” và sự phát triển gia công xuất khẩu ở Trung Quốc hay ở Việt Nam đã chứng minh cho điều này. Các hình thức nhập khẩu Do tính chất phong phú và đa dạng của các đối tượng buôn bán quốc tế, các đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt động nhập khẩu, cũng như các quy định của nhà nước, nhập khẩu được biểu hiện dưới các hình thức sau: 1. Nhập khẩu tự doanh Nhập khẩu tự doanh là hình thức nhập khẩu trong đó bên nhập khẩu trực tiếp nhập khẩu với danh nghĩa và chi phí của mình, rồi sau đó tiến hành kinh doanh, bán hàng nhập khẩu cho khách hàng trong nước có nhu cầu.
Đặc điểm của nhập khẩu tự doanh: - Hoạt động theo hình thức này thì độ rủi ro và độ mạo hiểm của doanh nghiệp là rất cao do họ tự bỏ mọi chi phí cũng như tự tiến hành tiêu thụ hàng nhập khẩu. - Khối lượng công việc rất lớn. Theo hình thức này, doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, tính toán đầy đủ các chi phí, thiết lập phương án kinh doanh, đảm bảo kinh doanh có lãi, đúng phương hướng, chính sách luật pháp quốc gia và quốc tế 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đây là hình thức đem lại lợi nhuận cao nhất do không mất chi phí trung gian Thông thường, doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng ngoại thương với đối tác nước ngoài khi tiến hành nhập khẩu, còn hợp đồng bán trong nước sau khi hàng về sẽ được lập hoặc không cần lập một hợp đồng nào khác khi bán với hình thức như: bán lẻ hoặc trao tay. Nhập khẩu uỷ thác Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước có vốn, có nhu cầu nhập khẩu nhưng lại không có quyền tham gia vào các quan hệ xuất nhập khẩu trực tiếp hay xét thấy nhập khẩu trực tiếp không có lợi (bên uỷ thác), đã uỷ thác cho doanh nghiệp khác có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thương (bên nhận uỷ thác) tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình.
Bên nhận uỷ thác có nghĩa vụ đàm đán ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài, làm thủ tục nhập khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác và được nhận một khoản phí gọi là phí uỷ thác. Quan hệ giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác được quy định đầy đủ trong hợp đồng uỷ thác. Đặc điểm của nhập khẩu uỷ thác: - Theo hình thức này, doanh nghiệp nhập khẩu (bên nhận uỷ thác) hoạt động theo danh nghĩa của mình nhưng chi phí của người khác (bên uỷ thác) - Khối lượng công việc được giảm bớt cho các bên. Bên nhận uỷ thác không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ vì không phải tiêu thụ hàng nhập khẩu mà chỉ đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để giao dịch, đàm phán với đối tác nước ngoài, ký hợp đồng và làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa cũng như thay mặt cho bên uỷ thác khi có tranh chấp xảy ra với đối tác nước ngoài.
- Doanh nghiệp nhập khẩu phải làm hai hợp đồng: một hợp đồng nhập khẩu với đối tác nước ngoài, một hợp đồng uỷ thác với bên uỷ thác - Lợi nhuận của hoạt đồng nhập khẩu này sẽ bị chia sẻ cho các bên, bên uỷ thác sẽ trả cho bên nhận uỷ thác thông thường là từ 0.5% giá trị hợp đồng.