CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THỰC VẬT CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG TÍCH HỢP 1. Cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động khám phá thực vật cho trẻ MG 5-6 tuổi theo hướng tích hợp 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về tích hợp và giáo dục tích hợp Tích hợp cũng như việc vận dụng nó vào giáo dục và phát triển xã hội đã được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm.
Qua hàng thế kỉ, nó vẫn luôn được coi là vấn đề trọng tâm của giáo dục. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về tích hợp. Điều này tạo nên các hướng nghiên cứu như sau: * Về quan niệm và bản chất của tích hợp, tích hợp trong giáo dục Hướng thứ nhất bao gồm các ý tưởng cho rằng tích hợp là sự kết hợp, tổng hợp hài hòa giữa các khía cạnh hay bộ phận tạo nên một chỉnh thể. Đại diện cho quan niệm này là Sri Aurobindo, Indra Sen, Haridas Chaudhuri và Alfred North Whitehead.
Cụ thể, hướng này khẳng định nhiệm vụ của GDTH là phát triển đồng thời và hài hòa cả 4 khía cạnh (thể chất, nhân cách, trí tuệ, tinh thần) của người học qua việc phối hợp các môn khoa học, thể chất, nghệ thuật… hướng tới kết hợp các nền văn hóa để tạo thành nền văn hóa chung có tầm nhìn toàn cầu, phát triển khả năng sáng tạo cho người học nhằm biến kiến thức thành trí tuệ của bản thân. [36] Hướng thứ hai nhìn nhận tích hợp là sự kết nối, đan xen giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài của cá nhân và tập thể tác động đến sự phát triển của con người hay quá trình giáo dục. Đại diện cho hướng này là Ken Wilber và những nhà nghiên cứu tiếp thu quan điểm của ông gồm Tom Murray, Sean Esbjorn-Hargens, Jorge N.Ferrer, Judie Wexler, Nancy T. Quan điểm của hướng này xuất phát từ ý tưởng của Ken Wilber cho rằng mô hình tích hợp được gói gọn trong một sơ đồ tên là AQAL (All Quadrant All Levels) [34].
Ở đó mọi yếu tố bên trong, bên ngoài của cá nhân và tập thể được kết nối, đan xen vào nhau và tác động lên người học. Sơ đồ có bốn góc phần tư:hai góc phía trên nói đến các yếu tố bên trong (suy nghĩ, cảm xúc…) và bên ngoài (cơ thể, hành vi. Hai góc phía dưới mô tả những yếu tố bên trong (giá trị, các mối quan hệ, văn hóa…) và bên ngoài (chính quyền, môi trường tự nhiên.) của tập thể. Dựa trên sơ đồ AQAL, GV nhận ra cách thức liên kết và điều chỉnh các yếu tố tác động để phát triển toàn diện người học, còn người học sẽ phát hiện ra khả năng của bản thân để phát huy mặt mạnh, cải thiện mặt yếu.
Lý thuyết này mở ra ý tưởng kết nối nhiều môn học, thành phần khác nhau trong một HĐGD để tạo ra sự phát triển cùng lúc mọi mặt của người học. Với GDTH, bất kì HĐGD nào cũng luôn có sự xuất hiện đồng thời, thống nhất giữa các thành phần cấu thành nên nó như hành vi giáo dục, kinh nghiệm giáo dục, văn hóa giáo dục và hệ thống giáo dục [38]. Nhưng không nhấn mạnh quá mức hay xem nhẹ bất cứ yếu tố, phương thức nào. [41] Theo sơ đồ AQAL mọi môn học, mọi lĩnh vực (khoa học, toán học, nghệ thuật…) đều có thể liên hệ với nhau, hỗ trợ nhau phát triển lớn hơn, giúp người học lĩnh hội kiến thức liên môn phù hợp.
Tuy nhiên, quan điểm của Ken Wilber không phải hoàn hảo. Trong thực tế AQAL chỉ mô tả gần đúng những hiện tượng phát triển phức tạp của con người, vì sự phát triển không đi theo đường thẳng mà luôn biến động phụ thuộc vào sự thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng đến chủ thể, nên rất khó để điều khiển nó chỉ dựa vào một cấu trúc chung duy nhất [41]. Bên cạnh đó, mô hình AQAL chưa tính đến tính cứng khó thay đổi trong cấu trúc sinh học của não người và việc bó hẹp mọi yếu tố trong một sơ đồ khiến nó bị hạn chế. [30],[39] Hướng thứ ba bao gồm các nghiên cứu cho rằng GDTH là một mô hình linh hoạt, sáng tạo; mang tính tổng thể, đa chiều, hướng tới các mục tiêu hình thành năng lực cho người học, giúp họ huy động mọi hiểu biết liên môn/xuyên môn để xử lý các tình huống hay vấn đề thực tế nào đó.
Điển hình cho hướng này chính là giáo dục STEM/STEAM. Giáo dục STEM được khởi xướng bởi Hoa Kỳ từ thế kỉ trước [3],[6] và hiện đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng như Anh, Úc,Xinh-ga-po. Giáo dục STEM là tích hợp liên môn giữa bốn lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật, toán trong chương trình học tập, giúp học sinh vận dụng hiểu biết, kinh nghiệm đa lĩnh vực để giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn [6]. Đây cũng là quan điểm đã được Bộ giáo dục và Đào tạo Việt Nam tiếp thu và đưa vào định hướng GDTH trong chương trình giáo dục phổ thông mới, đó là “dạy học giúp học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng… thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng".
[3] Giáo dục STEM có một số ưu điểm vượt trội như: tập trung vào sự gắn kết, bổ trợ lẫn nhau giữa nhiều môn học/lĩnh vực khác nhau trong HĐGD; sự kết nối này không rời rạc mà mang tính hệ thống, kế thừa và liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành tổng thể thống nhất; không nặng về lý thuyết mà hướng đến các hoạt động thực hành và vận dụng lý thuyết để tạo ra sản phẩm hoặc giải quyết vấn đề cụ thể nào đó trong cuộc sống; nhằm mục đích hình thành năng lực cần thiết cho người học trong thời đại mới như năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực sáng tạo,. [6] Giáo dục STEM được tổ chức thông qua các hoạt động trải nghiệm, giúp người học tự xây dựng khối tri thức mang bản sắc cá nhân, được học tập một cách hạnh phúc và có ý nghĩa cho cuộc sống của chính họ. Vào năm 2008, giáo dục STEM được Georgette Yakman đề xuất bổ sung thêm nghệ thuật (Art) để trở thành STEAM. Theo đó, nghệ thuật bao gồm đa dạng các loại hình như nghệ thuật ngôn từ, mỹ thuật, âm nhạc…[6] Xu hướng này đáp ứng yêu cầu của xã hội, bởi “mỹ” là một trong những giá trị mà con người khát khao đạt được, nghệ thuật tồn tại trong mọi mặt của đời sống con người từ các sản phẩm sinh hoạt đến sản phẩm công nghiệp.
Đặc biệt, việc tích hợp nghệ thuật rất phù hợp với mong muốn và sở thích của trẻ mầm non. Bên cạnh đó, một trong những yêu cầu đào tạo nguồn lao động trong thời đại mới là phải dạy trẻ biết cách tạo ra những sản phẩm đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ. Do đó, giáo dục STEM kết hợp sử dụng yếu tố nghệ thuật là một xu hướng cần được quan tâm và thực hiện. * Nghiên cứu ứng dụng GDTH ở bậc học mầm non Thứ nhất là nghiên cứu ứng dụng GDTH tại gia đình trẻ.
Lấy cảm hứng từ lý thuyết tích hợp của Ken Wilber, Mariam Mason Martineau đã đề xuất phương pháp giúp cha mẹ nuôi dạy trẻ mầm non theo hướng tích hợp. Dựa trên sơ đồ AQAL, cha mẹ có thể xem xét nhiều dòng phát triển ở trẻ: nhận thức, tinh thần…; nhận ra trẻ đang ở mức độ phát triển nào và có thể tiến lên mức nào cao hơn; xem xét khuynh hướng nội tâm của trẻ, để tạo điều kiện cũng như có cách tác động đúng đắn cho chúng phát triển tốt nhất. Từ đó, cha mẹ kiểm soát được những yếu tố tác động đến trẻ, phục vụ cho việc chẩn đoán các bất thường dễ dàng và chính xác hơn. [35] Thứ hai là nghiên cứu GDTH ở trường lớp mầm non.
Tác giả Nguyễn Thị Hòa cho rằng việc tích hợp, lồng ghép, đan cài các hoạt động của trẻ vào nhau ở trường mầm non được thực hiện trên cơ sở lấy hoạt động chủ đạo của trẻ làm hoạt động “công cụ” giúp trẻ tiếp thu kinh nghiệm xã hội ở nhiều góc độ, nhiều lĩnh vực khác nhau, đó là những kinh nghiệm mang tính tích hợp cần thiết cho trẻ trong cuộc sống thực và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một. [7] Từ tất cả các quan điểm về tích hợp kể trên, chúng tôi lựa chọn xây dựng đề tài dựa trên cách tiếp cận tích hợp liên môn, nghiên cứu tổ chức hoạt động KPTV cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng kết nối, hợp nhất các lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kĩ thuật, toán học) và bổ sung yếu tố nghệ thuật tùy thuộc vào từng bối cảnh cụ thể trong hoạt động nhằm đáp ứng mục tiêu hình thành năng lực cho trẻ mầm non nói chung và trẻ 5- 6 tuổi nói riêng, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục và đào tạo nguồn lao động chất lượng cao phục vụ sự phát triển xã hội hiện đại. Nghiên cứu về hoạt động KPTV cho trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN KPTV là một dạng hoạt động KPKH. Trẻ 5-6 tuổi có nhu cầu rất lớn với việc khám phá MTXQ nói chung và thực vật nói riêng, vì thế, đây luôn được coi là một trong số những hoạt động trọng tâm của trẻ ở trường mầm non.
Theo tác giả Hoàng Thị Phương, ở giai đoạn đầu đời, trẻ em mới bắt đầu “làm quen với môi trường xung quanh”, để “phát triển như một nhân cách” đi “từ thích ứng đến lĩnh hội và cải tạo môi trường”. [18] Đối với trẻ mầm non, hai tác giả Hoàng Thị Oanh và Nguyễn Thị Xuân cho rằng hoạt động KPKH là cách thức để trẻ tìm hiểu thế giới thông qua khám phá, thử nghiệm, phát hiện, giải thích, lập luận., qua đó trẻ thu được một lượng kiến thức khoa học đơn giản và quan trọng hơn là phát triển năng lực cơ bản như quan sát, tư duy logic, giải quyết vấn đề,. [16] Khi cho trẻ khám phá MTXQ, GV là người xây dựng môi trường giáo dục, tạo các tình huống và tổ chức hoạt động cho trẻ tiếp xúc, trải nghiệm với các sự vật, hiện tượng của MTXQ, thông qua đó trẻ hiểu biết về đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng, các mối quan hệ qua lại, sự thay đổi và phát triển của chúng.[16] Từ đó, trẻ mở rộng hiểu biết, hình thành năng lực cá nhân, tăng khả năng thích nghi với mọi sự thay đổi của môi trường sống.