Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chương 2: Thực trạng hoạt động kế toán tại hộ kinh doanh Nguyên Liệu Xanh. Chương 3: Đề xuất giải pháp đối với hoạt động kế toán tại HKD NLX. 14 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KE TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.
Hệ thống văn bản pháp lý về tổ chức công tác kế toán Theo Điều 3 Thông tư 88 (2021) “Hướng dẫn chế độ kế toán cho các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh” quy định: “Việc bố trí người làm kế toán của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh do người đại diện hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh quyết định. Người đại diện hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có thể bố trí cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi, anh, chị, em ruột của mình làm kế toán cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh hoặc bồ trí người làm quản lý, điều hành, thủ kho, thủ quỹ, người được giao nhiệm vụ thường xuyên mua, ban tai sản kiêm nhiệm làm kế toán cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh”. “Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện chế độ kế toán hướng dẫn tại Thông tư này hoặc được lựa chọn áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp siêu nhỏ cho phù hợp với nhu cầu quản lý và đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh”. Bên cạnh đó Điều 17 Nghị định 174/2016/NĐ-CP cũng quy định: “Đơn vị kế toán phải bố trí người làm kế toán đảm bảo các quy định của Luật kế toán, số lượng người làm kế toán tùy theo quy mô hoạt động, yêu cầu quản lý, chức năng nhiệm vụ hoặc biên chế của đơn vị”.
Đồng thời “Don vị kế toán có thé bé trí người làm kế toán kiêm nhiệm các công việc khác mà pháp luật về kế toán không nghiêm cam”. Theo Điều 50 Luật kế toán (2015) trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật là cần “Tổ chức bộ máy kế toán, bố trí người làm kế toán hoặc quyết định thuê doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán, hộ kinh doanh dich vụ kế toán theo đúng quy định” Như vậy theo quy định của pháp luật, một doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ hoặc một hộ kinh doanh cá thể muốn hoạt động hiệu quả cần phải có 3 yếu tố: thứ nhất là tổ chức bộ máy kế toán; thứ 2 là phân công công việc cho người làm kế toán hoặc 15 thuê dịch vụ kế toán theo đúng quy định pháp luật và thứ3 là cần quan tâm tô chức công tác kiêm toán nội bộ. Hệ thống văn bản pháp lý về tổ chức người làm kế toán Theo Điều 51, Luật kế toán (2015) “Người làm kế toán phải có các tiêu chuẩn như có phẩm chat đạo đức nghé nghiệp, trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật; có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về kế toán.” Theo Điều 52, Luật kế toán (2015) một số trường hợp không được làm kế toán gồm “Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi, anh, chị, em ruột của người đại diện theo pháp luật, của người đứng đầu, của giám đốc, tổng giám đốc và của cấp phó của người đứng đầu, phó giám đốc, phó tổng giám đốc phụ trách công tác tài chính - kế toán, kế toán trưởng trong cùng một đơn vị kế toán, trừ doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn do một cá nhân làm chủ sở hữu và các trường hợp khác do Chính phủ quy định. Người đang là người quản lý, điều hành, thủ kho, thủ quỹ, người mua, ban tai sản trong cùng một đơn vi kế toán, trừ trong doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn do một cá nhân làm chủ sở hữu và các trường hợp khác do Chính phủ quy định” Theo Điều 20, Nghị định 174 (Chính phủ, 2016) quy định “Đơn vị kế toán phải bồ trí kế toán trưởng.
Trường hợp đơn vị chưa bồ nhiệm được ngay kế toán trưởng thì bồ trí người phụ trách kế toán hoặc thuê dich vụ làm kế toán trưởng theo quy định. Thời gian bố trí người phụ trách kế toán tối đa là 12 tháng, sau thời gian này đơn vị kế toán phải bồ trí người làm kế toán trưởng” Như vậy, một tô chức kinh doanh cần tuân thủ nghiêm ngặt điều kiện hành nghề trong việc tổ chức người làm kế toán, người làm kế toán trưởng, công tác phân chia công việc phải xem xét quy tắc bất kiêm nhiệm và cần phải bổ nhiệm kế toán trưởng theo đúng quy định hiện hành. Khái quát về tổ chức kế toán trong doanh nghiệp 1. Khái niệm kế toán Theo chuẩn mực kế toán: kế toán là công cụ ghi chép, tính toán băng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu đưới hình thức giá trị dé phan anh, kiém tra tinh hinh van động của các loại tai sản, qua trình va kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn kinh phí của nhà nước, cũng như từng tổ chức, xí nghiệp.
Theo luật kế toán Việt Nam năm 2015 “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”. Kế toán tài chính phản ánh thực trạng và các biến động về vốn và tài sản của doanh nghiệp dưới dạng tổng quát hay phản ánh các dòng vật chất và dòng tiền tệ trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh tế bên ngoài. Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) lại cho rằng: Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại tổng hợp theo một cách riêng có bằng những khoản tiền các nghiệp vụ và các sự kiện mà chúng có it nhất một phần tính chất tài chính và trình bày kết quả của nó”. Theo dòng phat triển của kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật, bên cạnh cách tiếp cận trên còn có nhiều cách tiếp cận về kế toán.
Tuy nhiên các cách tiếp cận đều mang nọi dung thống nhất với nhau đó là: Kế toán là một hệ thống của những khái niệm và phương pháp, hướng dẫn chúng ta thu thập, đo lường, xử lý và truyền đạt những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định tài chính hợp lý. Khái niệm về tổ chức kế toán trong doanh nghiệp Tương tự như khái niệm kế toán, khái niệm về tổ chức kế toán cũng được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Dựa theo góc tiếp cận chung nhất có thê đưa ra khái niệm về tổ chức kế toán như sau: Tổ chức kế toán trong các doanh nghiệp là hoạt động chủ quan của doanh nghiệp trong việc tô chức vận dụng các phương 17 pháp, nguyên tắc, chuẩn mực về chế độ kế toán thu thập, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản, các hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp. Vai trò của kế toán và tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp 1.
Vai trò của kế toán Theo luật kế toán Việt Nam:”.đối với các tổ chức doanh nghiệp, kế toán là công cụ quan trọng dé điều hành, quản lý các hoạt động, tính toán kinh tế và kiểm tra việc bảo vệ, sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn nhằm đảm bảo quyền chủ động sản xuất kinh doanh và chủ động tài chính”. Kế toán là một bộ phận vô cùng quan trọng cấu thành hệ thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính, có vai trò rất lớn trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp. Kế toán là phương tiện kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động kinh tế, tài chính và góp phần đặc biệt quan trọng để đảm bảo mọi quá trình hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp có hiệu quả. Kế toán góp phần không nhỏ giúp nhà quản lý theo déi một cách thường xuyên và chính xác tình hình hoạt động kinh doanh của mình, từ quá trình sản xuất đến theo dõi thị trường.
Qua đó nhà quản lý có thể điều hành các hoạt động quản lý, kiểm soát nội bộ một cách có hiệu quả. Có thé thấy rằng kế toán có vai trò rat quan trong trong việc cung cấp tài liệu cho doanh nghiệp làm cơ sở hoạch định các hoạt động của từng giai đoạn. Nhờ đó, nhà quản lý xác định được hiệu quả công việc và có thé đưa ra phương án cũng như hướng hoạt động trong tương lai. Vai trò, nhiệm vụ của tổ chức kế toán e Vai trò của tô chức kế toán Phản ánh đầy đủ các khoản chỉ phí bỏ ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh cũng như kết quả của quá trình đó dem lại lợi nhuận (16) cho doanh nghiệp.
Giúp chủ doanh nghiệp điều hành và quản lý các hoạt động kinh tế, tài chính ở các đơn vi đạt hiệu quả cao. 18 Giúp doanh nghiệp quản lý chặt chẽ tài sản và bảo vệ được tải sản của mình nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng tài sản đó. Kiểm tra, giám sát tính hiệu quả trong việc sử dụng vốn và tính chủ động trong kinh doanh. Cung cấp dữ liệu cho các nhà quản trị làm cơ sở hoạch định sản xuất kinh doanh và ra quyết định kinh doanh kip thời, hiệu quả.
Việc tổ chức kế toán một cách khoa học, hợp lý là rất cần thiết, có tầm quan trọng đặc biệt dé thực hiện tốt công tác quản lý kinh tế, tài chính của đơn vị. Nhiệm vụ của tổ chức kế toán Những nhiệm vụ cơ bản của tổ chức kế toán cần thực hiện: Cần tổ chức bộ máy kế toán ở đơn vị tùy theo khối lượng công việc và biên chế bộ máy kế toán dé thực hiện toàn bộ các nhiệm vụ tài chính, kế toán, thống kê ở đơn vị. Có phương pháp khoa học dé lưu trữ, hệ thống hóa, xử lý, cung cấp thông tin theo hình thức kế toán thích hợp nhằm đảm bảo được những yêu cầu của thông tin kế toán trong báo cáo tài chính của kế hoạch hiện hành. Tổ chức thực hiện công việc kế toán theo chế độ kế toán hiện hành phù hợp với lĩnh vực hoạt động của từng công ty.
Tổ chức hướng dẫn mọi nhân viên trong tổ chức nắm được các chế độ về quản lý kinh tế, tài chính và chế độ kế toán nói riêng cho mọi người có thể thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, tài chính phát sinh ở đơn vị một cách đúng đăn.