Chương 1 nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận và pháp lý về hoạt động HTQT trong PHGT TLLT. Trong đó, ngoài khái niệm về TLLT, HTQT về lưu trữ, luận văn đã kế thừa, bổ sung định nghĩa về HTQT về lưu trữ, PHGT TLLT và đưa ra quan điểm về HTQT trong PHGT TLLT, mục đích, nguyên tắc và các biện pháp thực hiện hoạt động HTQT trong PHGT TLLT chưa được nghiên cứu trước đó, đồng thời, chỉ ra những khoảng trống trong quy định về HTQT trong PHGT TLLT. Đây chính là các cơ sở để luận văn thực hiện những chương tiếp theo. Chƣơng 2: Biện pháp và kết quả thực hiện hoạt động hợp quốc tế của Cục Văn thƣ và Lƣu trữ nhà nƣớc trong phát huy giá trị tài liệu lƣu trữ Chương 2 tập trung hai nội dung chính: Thứ nhất, giới thiệu tổng quan về CVTLLTNN, mạng lưới HTQT và khối lượng, thành phần TLLT mà Cục đang quản lý.
Thứ hai, nghiên cứu, tìm hiểu các biện pháp thực tiễn của CVTLTNN trong quá trình thực hiện hoạt động HTQT về PHGT TLLT và những kết quả đạt được của hoạt động HTQT về PHGT TLLT từ năm 2007 đến nay. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng hoạt động hợp tác quốc tế trong phát huy giá trị tài liệu lƣu trữ Trên cơ sở đánh giá thực tiễn hoạt động HTQT trong PHGT TLTL, chương này tập trung nghiên cứu, đề xuất các nhóm giải pháp về quản lý và nghiệp vụ cũng như xây dựng quy trình thực hiện thống nhất hoạt động HTQT của CVTLTNN 8 trong PHGT TLLT nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới. Những giải pháp được đề xuất trong chương này còn được củng cố thêm từ việc tham khảo kinh nghiệm thực tiễn của một số nước về HTQT trong PHGT TLLT và lấy ý kiến qua phiếu khảo sát. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÀI LIỆU LƢU TRỮ 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm tài liệu lưu trữ Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về TLLT, dưới đây là một số định nghĩa phổ biến: Tác giả Đào Xuân Chúc, Nguyễn Văn Hàm, Vương Đình Quyền và Nguyễn Văn Thâm đưa ra trong Giáo trình Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ (1990): “Tài liệu lưu trữ là tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp và cá nhân có ý nghĩa chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, lịch sử và các ý nghĩa khác được bảo quản trong các phòng, kho lưu trữ” [12, tr. Từ điển Lưu trữ Việt Nam định nghĩa: “Tài liệu lưu trữ là những tài liệu có giá trị được lựa chọn từ trong toàn bộ khối tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp và cá nhân được bảo quản cố định trong các lưu trữ để khai thác phục vụ các mục đích chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, lịch sử… của xã hội” [52, tr. Thuật ngữ này cũng được đề cập trong Luật Lưu trữ các nước như sau: Tài liệu lưu trữ là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử được lựa chọn để lưu trữ.
Tài liệu bao gồm bản gốc, bản chính; trong trường hợp không còn bản gốc, bản chính thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp (Luật Lưu trữ Việt Nam năm 2011) [45, tr. Tài liệu lưu trữ là toàn bộ sách, thư từ trao đổi, bản ghi nhớ, tài liệu, giấy tờ, sách mỏng, tác phẩm nghệ thuật, mô hình, tranh, ảnh, đĩa, bản đồ, phim và ảnh chuyển động, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn ở các bản ghi âm thanh và hình ảnh hoặc các bản ghi điện tử hoặc cơ học khác, ở định dạng analog, kỹ thuật số hoặc bất kỳ hình thức nào khác” (Luật Lưu trữ Mỹ).1] Tài liệu lưu trữ là toàn bộ tài liệu được sản sinh hay tiếp nhận trong quá trình hoạt động của các cá nhân, cơ quan, tổ chức công hoặc tư cho dù tài 10 liệu được tạo ra vào thời gian nào, được bảo quản ở đâu, hình dạng và vật mang tin thế nào (Luật Lưu trữ Pháp) [72, tr. Từ những quan niệm trên có thể thấy các đặc điểm cơ bản của TLLT là (i) bản gốc, bản chính có tính xác thực cao; (ii) chứa đựng các thông tin quá khứ; (iii) có giá trị phục vụ nhiều mục đích khác nhau của xã hội. Trên cơ sở tham khảo kết quả của các công trình nghiên cứu và Luật Lưu trữ các nước định nghĩa về TLTL, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi đồng tình với ý kiến của Tổ Thường trực Biên tập Luật Lưu trữ (sửa đổi) như sau: “Tài liệu lưu trữ là thông tin có nội dung và dạng thức không thay đổi trên các vật mang tin khác nhau, được hình thành trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân, có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử, được lựa chọn để lưu trữ theo quy định.
Tài liệu bao gồm tài liệu giấy, tài liệu điện tử và tài liệu khác”3. Khái niệm phát huy giá trị tài liệu lưu trữ Lần đầu tiên thuật ngữ “PHGT TLLT” xuất hiện trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng năm 2006. Cho đến nay, thuật ngữ này mới chỉ được đề cập trong một số công trình nghiên cứu dưới quan điểm của các cá nhân mà chưa có giáo trình, văn bản chính thống nào đưa ra định nghĩa về PHGT TLLT. Về góc độ lý luận, dưới đây là một số ý kiến cá nhân về PHGT TLLT: Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ do Nhà xuất bản (Nxb) Văn hóa – Thông tin xuất bản tại Hà Nội năm 2012 giải thích: “phát huy” là làm cho cái hay cái tốt lan tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm [57, tr.
Theo cách giải thích này, trong cuốn PHGT TLLT ở Việt Nam do Nxb Thông tin và Truyền thông xuất bản năm 2002, TS. Trần Hoàng quan niệm “PHGT TLLT là làm cho nhiều người biết đến hơn và biết rõ hơn về ý nghĩa, lợi ích và sự quý giá của TLLT” [32, tr.21] Theo tác giả Trịnh Thị Hà: PHGT TLLT là “làm cho giá trị thực tiễn và giá trị lịch sử của TLLT ngày càng được quảng bá, lan tỏa, phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học, lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa và những mục đích khác của xã hội”, Tạp chí Văn thư - Lưu trữ Việt Nam số 8/2016 [23, tr. Trong luận văn cao học “PHGT tài liệu tại Lưu trữ lịch sử Thành ủy Hải Phòng phục vụ hoạt động của các cơ quan, tổ chức đảng” (2020), tác giả Lê Thị Hiền 3 Dự thảo Luật Lưu trữ (sửa đổi) ngày 04/7/2023 11 quan niệm “PHGT được hiểu là tập hợp các phương thức, biện pháp mà các Lưu trữ sử dụng nhằm khơi dậy tiềm năng, giá trị, thông tin chứa đựng trong TLLT để phục vụ sự phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội” [28, tr. Từ những quan điểm nói trên và qua nghiên cứu, tìm hiểu, chúng tôi cho rằng PHGT TLLT gồm hai nhóm hoạt động chủ yếu là: (1) Sử dụng các thông tin có giá trị từ TLLT phục vụ đời sống xã hội; (2) là hoạt động có tính chủ động của các cơ quan, tổ chức lưu trữ nhằm giới thiệu, quảng bá giá trị của TLLT với công chúng.
Ở góc độ chủ thể, PHGT TLLT có hai nhóm đối tượng có trách nhiệm chính trong việc giới thiệu, quảng bá giá trị của TLLT là: (1) các cơ quan, tổ chức lưu trữ; (2) các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng TLLT với mục đích khác nhau; Ở góc độ nội dung, có thể được hiểu PHGT TLLT theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp: Theo nghĩa rộng, PHGT TLLT bao gồm nội dung tổ chức quản lý và các hoạt động nghiệp vụ của công tác lưu trữ nhằm hướng tới mục đích cuối cùng và quan trọng nhất của công tác lưu trữ là sử dụng và quảng bá giá trị TLLT; Theo nghĩa hẹp, PHGT TLLT chủ yếu liên quan đến hoạt động nghiệp vụ về KTSD và quảng bá TLLT. Xuất phát từ góc độ là cơ quan quản lý nhà nước về TLLT quốc gia và quản lý các lưu trữ lịch sử, trong phạm vi đề tài này chúng tôi tiếp cận khái niệm PHGT theo nghĩa hẹp. Theo quan điểm của chúng tôi: PHGT là hoạt động nghiệp vụ lƣu trữ mang tính chủ động do các cơ quan, tổ chức lƣu trữ thực hiện nhằm giới thiệu, đƣa TLLT đến gần công chúng và khơi dậy tiềm năng, lan tỏa giá trị chứa đựng trong TLLT để phục vụ đời sống xã hội. Khái niệm hợp tác quốc tế, hợp tác quốc tế về lưu trữ Các nghiên cứu cho rằng, HTQT về lưu trữ là một hiện tượng tất yếu trong xã hội và có tầm quan trọng đối với sự phát triển của Ngành Lưu trữ.
Để đi đến khái niệm HTQT trong lĩnh vực lưu trữ, trước hết cần tìm hiểu về khái niệm HTQT. Về khái niệm HTQT, có một số giáo trình và học giả, chính khách đã đưa ra những quan điểm khác nhau nhưng đến nay chưa có sự nhận thức thống nhất và quy định nào chính thống về HTQT. a) Khái niệm hợp tác quốc tế Theo giáo trình Quan hệ quốc tế của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản năm 2021 đưa ra khái niệm “hợp tác quốc tế là loại hình quan hệ xã hội đặc thù nảy sinh qua quá trình hoạt động thực tiễn của con người vượt ra khỏi 12 phạm vi biên giới quốc gia; là hệ quả của các hoạt động, tương tác, trao đổi mang tính xuyên quốc gia giữa các chủ thể quan hệ quốc tế trên các lĩnh vực đa dạng của đời sống quốc tế”. Có thể thấy theo quan điểm này, về góc độ khoa học, HTQT là một ngành của khoa học chính trị, nghiên cứu chuyên biệt về ngoại giao, mối quan hệ của các quốc gia, các chủ thể phi quốc gia thông qua sự tương tác của các yếu tố thuộc về hệ thống quốc tế.10] Tác giả Bùi Thanh Sơn định nghĩa trong cuốn “Hội nhập quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” của Bộ Ngoại giao xuất bản năm 2015 cho rằng “Hợp tác quốc tế mang nghĩa rộng là các nước (tổ chức và cá nhân của các nước) cùng nhau làm việc chung, thường trên cơ sở các bên cùng có lợi” [51, tr.
Như vậy, HTQT là hoạt động do các chủ thể kết hợp với nhau hoặc thực hiện cùng nhau để cùng đạt được lợi ích hoặc theo đuổi những mục tiêu chung.