CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN VE ĐẦU TƯ PHÁT TRIEN TẠI DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC THỰC PHẨM 1. Đặc điểm của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm Trong thời gian gần đây, ngành sản xuất và chế biến thực phâm có xu hướng tăng trưởng mạnh, từng bước cung cấp ra thị trường nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh cao. Ngành thực phẩm là lĩnh vực ít bị ảnh hưởng nhất trong bối cảnh diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, bởi đây là nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng hàng ngày. Trong một doanh nghiệp sản xuất lương thực, thực phâm diễn ra các hoạt động nhằm tạo ra sản phẩm và cung cấp các loại sản phẩm này dé đáp ứng nhu cầu xã hội.
Hiện nay, doanh nghiệp ngành thực phẩm tôn tại dưới nhiều loại hình như: doanh nghiệp sản xuất thực phẩm, doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm, doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thực phẩm, doanh nghiệp dịch vụ thực phẩm, doanh nghiệp nghiên cứu và chuyên giao công nghiệp thực pham .Một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm thường có những đặc điểm sau: Thứ nhất, quả trình sản xuất của một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. - Sức lao động: bộ phận sản xuất và bộ phận văn phòng (kinh doanh, kế toán, hành chính. - Đối tượng lao động của ngành thực pham hầu hết là nguyên vật liệu tự nhiên như các loại cây trồng nông nghiệp (lúa, ngô, khoai.), các hoạt chất đã được điều chế (nhũ hóa, enzyme, chất oxy hóa). Bên cạnh đó, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm còn sử dụng các vật liệu như thép, nhôm, ni long.dé đựng, đóng gói, bảo quản sản phẩm sau sân xuất, chế biến.
- Tu liệu lao động: co hai loại tư liệu lao động: công cụ lao động (máy móc, thiết bị sản xuất.); bộ phận gián tiếp cho quá trình sản xuất (nhà may, nhà xưởng, kho, phương tiện vận tải. Ngoai ra, KH&CN cũng nắm vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động DTPT của các doanh nghiệp trong lĩnh vực thực phẩm. Thứ hai, đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất, chế biến lương thực, thực phẩm là phụ thuộc chủ yêu vào nguồn nguyên liệu đầu vào từ nông sản. Do đó, giá trị của các sản phâm từ nông nghiệp được tăng lên sau quá trình chê biên, giảm sự 2 phụ thuộc của việc tiêu thụ nông sản vào thời gian và khoảng cách.
Thứ ba, sản phẩm của các doanh nghiệp ngành thực phẩm thường khá đa dạng, phong phú, giá trị không quá cao và quay vòng vốn nhanh. Vì thực phẩm luôn là nhân tố thiết yếu dé duy trì sự sông đới với con người nên lượng hàng hóa vào/ra của các doanh nghiệp ngành thực phẩm thường lớn, tỷ lệ xoay vòng vốn cao. Thứ tu, giá tri sản phâm hau hết thường không quá cao va don hàng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm gồm số lượng lớn các mặt hàng khác nhau. Vì lí do đó, các doanh nghiệp ngành thực phẩm thường duy trì tỷ lệ hàng tồn kho lớn.
Đó cũng là khoản mục mà doanh nghiệp ngành thực phẩm chú trọng đầu tư, bên cạnh việc đầu tư TSCD phục vụ việc sản xuất kinh doanh. Thứ năm, các doanh nghiệp ngành thực phẩm thường xuyên phải đối mặt với những khó khăn và rủi ro bất ngờ từ chính hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hoặc môi trường kinh doanh, chang hạn như: các yêu cầu về cơ sở vật chất đảm bảo chất lượng sản phâm, yêu cầu vệ sinh an toàn thực phâm, nhu cầu tiêu dùng không ổn định. Những van dé này gây ra nhiều khó khăn cho các công ty trong ngành, từ các doanh nghiệp lớn đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong điều kiện các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp thực phẩm nói riêng phải đối mặt với nhiều rủi ro.
Ngoài việc phân tích hiệu quả dé đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình tài chính của công ty thì việc ĐTPT nhăm phát huy hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là vấn đề cân được quan tâm và câp thiệt trong thời điêm hiện tại. Nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm 1. Nguồn vốn chủ sở hữu Nguồn vốn chủ sở hữu do chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư góp vốn hoặc được hình thành từ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, nguồn vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ.
Một doanh nghiệp có thé nhiều chủ sở hữu vốn. Đề thành lập doanh nghiệp và sản xuất kinh doanh, cần số vốn nhất định được hình thành từ nhiều nguồn vốn hoàn toàn khác nhau. Nguồn vốn chủ sở hữu có thé được tích lũy trong nội bộ doanh nghiệp và từ khoản khấu hao hăng năm. Ưu điểm của nguồn vốn này bao gồm tính độc lập, không phụ thuộc vào chủ nợ và giảm rủi ro tín dụng.
Các dự án sử dụng nguôn vôn chủ sở hữu không làm hạn 3 chế khả năng vay nợ của một doanh nghiệp. Nguồn von nợ Nguồn vốn nợ của doanh nghiệp được hình thành từ việc vay nợ hoặc phát hành chứng khoán qua công chúng thông qua hai hình thức chủ yếu: tài trợ gián tiếp qua các trung gian tài chính (ngân hàng thương mại, các tô chức tin dụng .) hoặc tài trợ trực tiếp (qua thị trường vốn: thị trường chứng khoán, hoạt động tín dụng thuê mua. Nội dung đầu tư phát triển của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm ĐTPT tại doanh nghiệp ngành thực phẩm là việc sử dụng vốn, nguyên liệu và các nguôn lực khác trong hiện tại nhằm duy trì hoạt động SXKD, tăng thêm tài sản, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao đời sống của can bộ, nhân viên trong công ty. Đầu tư xây dựng cơ bản (đầu tư vào tài sản cỗ định) của doanh nghiệp Đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư nham tạo ra TSCĐ của doanh nghiệp.
Đầu tư XDCB trong các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thực pham gồm các hoạt động như: xây dựng nhà máy, nhà xưởng, kho và lắp đặt, mua sắm máy móc thiết bị. Hoạt động đầu tư này đòi hỏi nguồn vốn lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn DTPT của don vi. Hoạt động đầu tư XDCB đóng vai trò đặc biệt quan trọng dé doanh nghiệp ton tại va phat triển. Đầu tư XDCB là tiền đề, co sở dé đầu tư vào các nội dung khác.
Ngược lại, các nội dung đầu tư khác cũng tao điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, giúp doanh nghiệp tiếp tục phát triển, tạo ra TSCD cho doanh nghiệp. Xét theo nội dung, đầu tư XDCB bao gồm các nội dung sau: - Đầu tư xây dựng nhà máy, nhà xưởng, nhà kho, phương tiện vận tải, truyền dẫn. Hoạt động này thường xảy ra trước khi tiến hành sản xuất trong thời gian khá đài, thưởng từ 3-5 năm. - Đầu tư mua sắm, lắp đặt MMTB sản xuất.
Doanh nghiệp có thé mua máy móc thiết bi mới bằng cách nhập khẩu từ nước ngoài, hoặc do góp vốn của các cô đông hoặc đầu tu của nước ngoài chuyền giao công nghệ. - Dau tư sửa chữa, nâng cấp, cải tạo những tài sản hư hỏng, lỗi thời. Dé việc kinh doanh không bị ngừng trệ, doanh nghiệp phải đầu tư để nâng cấp nhà xưởng, máy móc. Hoạt động dau tư nay cân được tiên hành phù hợp yêu câu sản 4 xuât, quy mô và với nguôn lực mà doanh nghiệp đang có.
Đầu tư hàng tôn trữ trong doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm Hàng tồn trữ tại các công ty ngành thực phẩm bao gồm nguyên liệu, bán thành phẩm và sản phẩm được tồn trữ. Đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực thực phẩm, đầu tư hàng tồn trữ được coi là khoản mục quan trọng nhất trong quá trình đầu tư. Trong đó, nguyên liệu là một bộ phận hàng tồn trữ không thê thiếu. Tỷ lệ hàng tồn trữ trong các doanh nghiệp ngành thực phâm thường khá cao do hàng hóa có thời hạn sử dụng ngắn, luân chuyền liên tục, các đơn hàng yêu cầu số lượng sản phẩm lớn.
Sự liên kết của việc sản xuất và kinh doanh luôn cần nhanh chóng, nhịp nhàng. Duy trì hàng tồn kho là cách dé doanh nghiệp tránh tình trạng tắc nghẽn trong quá trình SXKD. Bên cạnh đó, doanh nghiệp dự trữ hàng tồn kho dé chuẩn bị cho những tình huống xấu, như sự sụt giảm cung ứng nguyên liệu, sự thay đổi đột ngột về giá cả hay những dot giãn cách xã hội làm đứt gãy chuỗi cung ứng trong thời gian vừa qua. Mặt khác, trong ngành thực phẩm, doanh nghiệp cần phân biệt rõ tồn trữ và dư thừa ứng đọng.
Nếu tồn trữ nhiều có thé dẫn đến ứng đọng nguồn vốn, hàng hóa hư hỏng, làm tăng chi phí bảo quản, giảm chất lương sản phẩm. Còn dự trữ quá ít có thể dẫn đến không đủ nguyên vật liệu, sản phâm dẫn đến gián đoạn SXKD, làm tăng giá thành sản phẩm, ảnh hưởng đến hiệu quả và uy tín của công ty. Đầu tư phát triển nguôn nhân lực Đầu tư cho nguồn nhân lực là hoạt động đầu tư nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực con người, đảm bảo an toàn lao động, cải thiện điều kiện và môi trường làm việc của người lao động. Nguồn nhân lực có vi trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế và doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố quyết định sức mạnh nội tại, đảm bảo năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm: đầu tư cho hoạt động đảo tạo đội ngũ lao động (chính quy, không chính quy, dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡng nghiệp vụ .); đầu tư chăm sóc sức khỏe, y tế, đầu tư cải thiện môi trường, điều kiện làm việc của người lao động. Trong các công ty ngành thực phẩm, nguồn nhân lực kém có thé dẫn đến không đảm bảo chất lượng sản phẩm, gây ra nhiều hậu quả, thiệt hại về kinh tế, con người và uy tín đối với khách hàng. Do vậy, nhân lực là nhân tổ có vai trò quyết định tới sự tồn tại của doanh nghiệp.
Điều này khiến việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực luôn được các công ty hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm quan tâm. Đầu tư nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ Trong điều kiện môi trường cạnh tranh ngành thực phẩm ngày càng gay gat, các doanh nghiệp “chạy đua” về năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm, KH&CN là nguồn lực quan trọng giúp doanh nghiệp tăng trưởng nhanh, phát triển bền vững.